Two Friends
A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
During the Prussian siege of Paris, two old fishing friends risk everything to slip past the lines for one peaceful morning they have missed for months.
Besieged Paris was in the throes of famine. Even the sparrows on the roofs and the rats in the sewers were growing scarce. People were eating anything they could get.
Paris bị vây hãm đang quằn quại trong cơn đói kém. Ngay cả chim sẻ trên mái nhà và chuột trong cống rãnh cũng ngày càng khan hiếm. Người ta ăn bất cứ thứ gì kiếm được.
As Monsieur Morissot, watchmaker by profession and idler for the nonce, was strolling along the boulevard one bright January morning, his hands in his trousers pockets and stomach empty, he suddenly came face to face with an acquaintance—Monsieur Sauvage, a fishing chum.
Khi ông Morissot, thợ đồng hồ theo nghề nghiệp và kẻ lêu lổng lúc bấy giờ, đang tản bộ dọc đại lộ vào một buổi sáng tháng Giêng rực rỡ, hai tay đút túi quần, bụng đói meo, ông bỗng chạm trán một người quen—ông Sauvage, bạn câu cá của mình.
Before the war broke out Morissot had been in the habit, every Sunday morning, of setting forth with a bamboo rod in his hand and a tin box on his back. He took the Argenteuil train, got out at Colombes, and walked thence to the Ile Marante. The moment he arrived at this place of his dreams he began fishing, and fished till nightfall.
Trước khi chiến tranh nổ ra, Morissot vẫn thường có thói quen, mỗi sáng Chủ nhật, lên đường với một cần câu tre trong tay và một chiếc hộp thiếc trên lưng. Ông đón chuyến tàu đi Argenteuil, xuống ở Colombes, rồi đi bộ từ đó đến đảo Marante. Ngay khi đến nơi mơ ước của mình, ông bắt đầu câu cá, và câu cho đến khi trời tối.
Every Sunday he met in this very spot Monsieur Sauvage, a stout, jolly, little man, a draper in the Rue Notre Dame de Lorette, and also an ardent fisherman. They often spent half the day side by side, rod in hand and feet dangling over the water, and a warm friendship had sprung up between the two.
Mỗi Chủ nhật, ông đều gặp ông Sauvage ngay tại chỗ đó, một người đàn ông nhỏ nhắn, mập mạp, vui vẻ, chủ tiệm vải trên phố Notre Dame de Lorette, và cũng là một người câu cá nhiệt thành. Họ thường dành nửa ngày bên nhau, cần câu trong tay, chân buông thõng trên mặt nước, và một tình bạn ấm áp đã nảy nở giữa hai người.
Some days they did not speak; at other times they chatted; but they understood each other perfectly without the aid of words, having similar tastes and feelings.
Có những ngày họ không nói gì cả; có những lúc họ trò chuyện; nhưng họ hiểu nhau hoàn hảo mà không cần đến lời nói, vì có cùng sở thích và cảm xúc.
In the spring, about ten o'clock in the morning, when the early sun caused a light mist to float on the water and gently warmed the backs of the two enthusiastic anglers, Morissot would occasionally remark to his neighbor:
Vào mùa xuân, khoảng mười giờ sáng, khi nắng sớm khiến một lớp sương mỏng bồng bềnh trên mặt nước và sưởi ấm nhẹ nhàng tấm lưng của hai người câu cá nhiệt thành, Morissot đôi khi nhận xét với người bạn bên cạnh:
“My, but it's pleasant here.”
“Chà, ở đây thật dễ chịu.”
To which the other would reply:
Người kia sẽ đáp lại:
“I can't imagine anything better!”
“Tôi không thể tưởng tượng ra điều gì tốt hơn thế!”
And these few words sufficed to make them understand and appreciate each other.
Và chỉ vài lời ngắn ngủi đó cũng đủ để họ hiểu và trân trọng nhau.
In the autumn, toward the close of day, when the setting sun shed a blood-red glow over the western sky, and the reflection of the crimson clouds tinged the whole river with red, brought a glow to the faces of the two friends, and gilded the trees, whose leaves were already turning at the first chill touch of winter, Monsieur Sauvage would sometimes smile at Morissot, and say:
Vào mùa thu, khi ngày sắp tàn, lúc mặt trời lặn phủ một ánh đỏ như máu lên bầu trời phía tây, và ánh phản chiếu của những đám mây đỏ thẫm nhuộm cả dòng sông một màu đỏ, mang đến ánh hồng trên gương mặt hai người bạn, và dát vàng lên những hàng cây, lá đã bắt đầu đổi màu dưới cái lạnh đầu tiên của mùa đông, ông Sauvage đôi khi mỉm cười với Morissot, và nói:
“What a glorious spectacle!”
“Cảnh tượng thật huy hoàng làm sao!”
And Morissot would answer, without taking his eyes from his float:
Và Morissot sẽ đáp lại, mắt vẫn không rời khỏi chiếc phao câu:
“This is much better than the boulevard, isn't it?”
“Chỗ này còn tốt hơn đại lộ nhiều, phải không?”
As soon as they recognized each other they shook hands cordially, affected at the thought of meeting under such changed circumstances.
Ngay khi nhận ra nhau, họ bắt tay nồng nhiệt, xúc động khi nghĩ đến việc gặp lại nhau trong hoàn cảnh đã đổi thay đến vậy.
Monsieur Sauvage, with a sigh, murmured:
Ông Sauvage, thở dài, lẩm bẩm:
“These are sad times!”
“Thời buổi thật buồn thảm!”
Morissot shook his head mournfully.
Morissot lắc đầu buồn bã.
“And such weather! This is the first fine day of the year.”
“Và cả thời tiết nữa! Đây là ngày đẹp trời đầu tiên trong năm.”
The sky was, in fact, of a bright, cloudless blue.
Bầu trời quả thực trong xanh, không một gợn mây.
They walked along, side by side, reflective and sad.
Họ bước đi bên nhau, trầm ngâm và buồn bã.
“And to think of the fishing!” said Morissot. “What good times we used to have!”
“Cứ nghĩ đến chuyện câu cá mà xem!” Morissot nói. “Chúng ta từng có những khoảng thời gian tuyệt vời biết bao!”
“When shall we be able to fish again?” asked Monsieur Sauvage.
“Khi nào chúng ta mới lại được câu cá đây?” ông Sauvage hỏi.
They entered a small cafe and took an absinthe together, then resumed their walk along the pavement.
Họ bước vào một quán cà phê nhỏ và cùng nhau uống một ly rượu absinthe, rồi tiếp tục bước đi trên vỉa hè.
Morissot stopped suddenly.
Morissot bỗng dừng lại.
“Shall we have another absinthe?” he said.
“Chúng ta uống thêm một ly absinthe nữa nhé?” ông nói.
“If you like,” agreed Monsieur Sauvage.
“Nếu anh muốn,” ông Sauvage đồng ý.
And they entered another wine shop.
Và họ bước vào một quán rượu khác.
They were quite unsteady when they came out, owing to the effect of the alcohol on their empty stomachs. It was a fine, mild day, and a gentle breeze fanned their faces.
Họ khá loạng choạng khi bước ra, do tác dụng của rượu lên cái bụng rỗng của mình. Đó là một ngày đẹp trời, ôn hòa, và một làn gió nhẹ phe phẩy trên mặt họ.
The fresh air completed the effect of the alcohol on Monsieur Sauvage. He stopped suddenly, saying:
Không khí trong lành càng làm tăng thêm tác dụng của rượu lên ông Sauvage. Ông bỗng dừng lại, nói:
“Suppose we go there?”
“Hay là ta đến đó đi?”
“Where?”
“Đến đâu?”
“Fishing.”
“Đi câu cá.”
“But where?”
“Nhưng đến đâu chứ?”
“Why, to the old place. The French outposts are close to Colombes. I know Colonel Dumoulin, and we shall easily get leave to pass.”
“Thì, đến chỗ cũ ấy. Các tiền đồn của Pháp gần Colombes lắm. Tôi quen Đại tá Dumoulin, chúng ta sẽ dễ dàng xin được phép qua thôi.”
Morissot trembled with desire.
Morissot run lên vì khao khát.
“Very well. I agree.”
“Được lắm. Tôi đồng ý.”
And they separated, to fetch their rods and lines.
Và họ chia tay nhau, để về lấy cần câu và dây câu.
An hour later they were walking side by side on the-highroad. Presently they reached the villa occupied by the colonel. He smiled at their request, and granted it. They resumed their walk, furnished with a password.
Một giờ sau, họ cùng nhau bước trên con đường lớn. Chẳng bao lâu họ đến được biệt thự nơi vị đại tá đang ở. Ông mỉm cười trước yêu cầu của họ, và chấp thuận. Họ tiếp tục lên đường, được trang bị một mật khẩu.
Soon they left the outposts behind them, made their way through deserted Colombes, and found themselves on the outskirts of the small vineyards which border the Seine. It was about eleven o'clock.
Chẳng bao lâu họ đã bỏ lại các tiền đồn phía sau, len lỏi qua Colombes hoang vắng, và thấy mình đang ở ven những vườn nho nhỏ dọc theo sông Seine. Lúc đó khoảng mười một giờ.
Before them lay the village of Argenteuil, apparently lifeless. The heights of Orgement and Sannois dominated the landscape. The great plain, extending as far as Nanterre, was empty, quite empty-a waste of dun-colored soil and bare cherry trees.
Trước mắt họ là làng Argenteuil, có vẻ như không còn sự sống. Những ngọn đồi Orgement và Sannois sừng sững trên khung cảnh. Vùng đồng bằng rộng lớn, trải dài đến tận Nanterre, trống trải, hoàn toàn trống trải—một vùng đất màu nâu xỉn hoang vu với những cây anh đào trơ trụi.
Monsieur Sauvage, pointing to the heights, murmured:
Ông Sauvage, chỉ về phía những ngọn đồi, lẩm bẩm:
“The Prussians are up yonder!”
“Quân Phổ đang ở trên đó kìa!”
And the sight of the deserted country filled the two friends with vague misgivings.
Và cảnh tượng vùng đất hoang vắng khiến hai người bạn tràn ngập một nỗi lo âu mơ hồ.
The Prussians! They had never seen them as yet, but they had felt their presence in the neighborhood of Paris for months past—ruining France, pillaging, massacring, starving them. And a kind of superstitious terror mingled with the hatred they already felt toward this unknown, victorious nation.
Quân Phổ! Họ chưa từng thấy chúng bao giờ, nhưng họ đã cảm nhận được sự hiện diện của chúng quanh vùng Paris suốt bao tháng qua—tàn phá nước Pháp, cướp bóc, tàn sát, bỏ đói họ. Và một nỗi kinh hoàng mang tính mê tín pha trộn với lòng căm ghét mà họ đã cảm thấy đối với dân tộc chiến thắng xa lạ này.
“Suppose we were to meet any of them?” said Morissot.
“Giả sử chúng ta gặp phải bọn chúng thì sao?” Morissot nói.
“We'd offer them some fish,” replied Monsieur Sauvage, with that Parisian light-heartedness which nothing can wholly quench.
“Chúng ta sẽ mời chúng ít cá,” ông Sauvage đáp, với sự lạc quan kiểu Paris mà chẳng gì có thể dập tắt hoàn toàn được.
Still, they hesitated to show themselves in the open country, overawed by the utter silence which reigned around them.
Vậy mà, họ vẫn ngần ngại lộ diện giữa cánh đồng trống, bị áp đảo bởi sự im lặng tuyệt đối bao trùm quanh họ.
At last Monsieur Sauvage said boldly:
Cuối cùng ông Sauvage mạnh dạn nói:
“Come, we'll make a start; only let us be careful!”
“Đi nào, chúng ta bắt đầu thôi; chỉ cần cẩn thận là được!”
And they made their way through one of the vineyards, bent double, creeping along beneath the cover afforded by the vines, with eye and ear alert.
Và họ len lỏi qua một trong những vườn nho, khom lưng gập đôi người, bò rón rén dưới sự che chở của những dây nho, tai mắt luôn cảnh giác.
A strip of bare ground remained to be crossed before they could gain the river bank. They ran across this, and, as soon as they were at the water's edge, concealed themselves among the dry reeds.
Còn lại một dải đất trống phải băng qua trước khi họ có thể đến được bờ sông. Họ chạy băng qua đó, và, ngay khi đến mép nước, họ ẩn mình giữa đám sậy khô.
Morissot placed his ear to the ground, to ascertain, if possible, whether footsteps were coming their way. He heard nothing. They seemed to be utterly alone.
Morissot áp tai xuống đất, để xem, nếu có thể, liệu có tiếng bước chân nào đang tiến về phía họ không. Ông chẳng nghe thấy gì cả. Họ dường như hoàn toàn cô độc.
Their confidence was restored, and they began to fish.
Sự tự tin của họ được khôi phục, và họ bắt đầu câu cá.
Before them the deserted Ile Marante hid them from the farther shore. The little restaurant was closed, and looked as if it had been deserted for years.
Trước mặt họ, đảo Marante hoang vắng che khuất họ khỏi bờ bên kia. Nhà hàng nhỏ đã đóng cửa, trông như thể đã bị bỏ hoang từ nhiều năm rồi.
Monsieur Sauvage caught the first gudgeon, Monsieur Morissot the second, and almost every moment one or other raised his line with a little, glittering, silvery fish wriggling at the end; they were having excellent sport.
Ông Sauvage bắt được con cá bống đầu tiên, ông Morissot bắt được con thứ hai, và hầu như cứ mỗi lúc lại có một người kéo dây câu lên với một con cá nhỏ, lấp lánh, óng ánh bạc đang quẫy đuôi ở đầu dây; họ đang có một buổi câu tuyệt vời.
They slipped their catch gently into a close-meshed bag lying at their feet; they were filled with joy—the joy of once more indulging in a pastime of which they had long been deprived.
Họ nhẹ nhàng thả những con cá bắt được vào một cái túi lưới mắt nhỏ nằm dưới chân; họ tràn ngập niềm vui—niềm vui được một lần nữa đắm mình trong thú vui mà họ đã bị tước mất từ lâu.
The sun poured its rays on their backs; they no longer heard anything or thought of anything. They ignored the rest of the world; they were fishing.
Mặt trời rọi những tia nắng lên lưng họ; họ không còn nghe hay nghĩ đến điều gì khác nữa. Họ lãng quên cả phần còn lại của thế giới; họ đang câu cá.
But suddenly a rumbling sound, which seemed to come from the bowels of the earth, shook the ground beneath them: the cannon were resuming their thunder.
Nhưng bỗng nhiên một tiếng ầm ầm, dường như phát ra từ lòng đất, làm rung chuyển mặt đất dưới chân họ: đại bác lại bắt đầu gầm thét.
Morissot turned his head and could see toward the left, beyond the banks of the river, the formidable outline of Mont-Valerien, from whose summit arose a white puff of smoke.
Morissot quay đầu và có thể thấy về phía bên trái, xa hơn bờ sông, hình dáng đáng sợ của núi Mont-Valérien, từ đỉnh núi bốc lên một làn khói trắng.
The next instant a second puff followed the first, and in a few moments a fresh detonation made the earth tremble.
Ngay lập tức, một làn khói thứ hai tiếp nối làn khói đầu tiên, và chỉ trong chốc lát, một tiếng nổ mới lại làm mặt đất rung chuyển.
Others followed, and minute by minute the mountain gave forth its deadly breath and a white puff of smoke, which rose slowly into the peaceful heaven and floated above the summit of the cliff.
Những tiếng khác lại tiếp nối, và cứ từng phút một, ngọn núi lại thở ra hơi thở chết chóc của nó cùng một làn khói trắng, chậm rãi bay lên bầu trời yên bình và bồng bềnh phía trên đỉnh vách đá.
Monsieur Sauvage shrugged his shoulders.
Ông Sauvage nhún vai.
“They are at it again!” he said.
“Lại bắt đầu rồi!” ông nói.
Morissot, who was anxiously watching his float bobbing up and down, was suddenly seized with the angry impatience of a peaceful man toward the madmen who were firing thus, and remarked indignantly:
Morissot, đang lo lắng theo dõi chiếc phao câu của mình nhấp nhô lên xuống, bỗng bị cơn nóng giận sốt ruột của một người yêu chuộng hòa bình xâm chiếm, hướng về những kẻ điên rồ đang bắn phá như vậy, và nhận xét đầy phẫn nộ:
“What fools they are to kill one another like that!”
“Chúng thật ngu ngốc khi giết hại lẫn nhau như thế!”
“They're worse than animals,” replied Monsieur Sauvage.
“Chúng còn tệ hơn cả loài thú nữa,” ông Sauvage đáp.
And Morissot, who had just caught a bleak, declared:
Và Morissot, vừa mới bắt được một con cá măng nhỏ, tuyên bố:
“And to think that it will be just the same so long as there are governments!”
“Cứ nghĩ mà xem, chuyện này sẽ vẫn cứ như vậy chừng nào còn có các chính phủ!”
“The Republic would not have declared war,” interposed Monsieur Sauvage.
“Nền Cộng hòa sẽ không tuyên chiến đâu,” ông Sauvage xen vào.
Morissot interrupted him:
Morissot ngắt lời ông:
“Under a king we have foreign wars; under a republic we have civil war.”
“Dưới một vị vua thì chúng ta có chiến tranh với nước ngoài; dưới một nền cộng hòa thì chúng ta có nội chiến.”
And the two began placidly discussing political problems with the sound common sense of peaceful, matter-of-fact citizens—agreeing on one point: that they would never be free. And Mont-Valerien thundered ceaselessly, demolishing the houses of the French with its cannon balls, grinding lives of men to powder, destroying many a dream, many a cherished hope, many a prospective happiness; ruthlessly causing endless woe and suffering in the hearts of wives, of daughters, of mothers, in other lands.
Và cả hai bắt đầu điềm tĩnh bàn luận về các vấn đề chính trị với lý lẽ thông thường của những công dân yêu chuộng hòa bình, thực tế—đồng ý với nhau ở một điểm: rằng họ sẽ không bao giờ được tự do. Và núi Mont-Valérien vẫn gầm thét không ngừng, phá hủy nhà cửa của người Pháp bằng những viên đạn đại bác, nghiền nát sinh mạng con người thành cát bụi, phá hủy biết bao giấc mơ, biết bao hy vọng ấp ủ, biết bao hạnh phúc tương lai; tàn nhẫn gây ra nỗi đau khổ và thống khổ vô tận trong lòng những người vợ, những người con gái, những người mẹ, ở những vùng đất khác.
“Such is life!” declared Monsieur Sauvage.
“Cuộc đời là vậy đó!” ông Sauvage tuyên bố.
“Say, rather, such is death!” replied Morissot, laughing.
“Nói đúng hơn thì, cái chết là vậy đó!” Morissot đáp, cười.
But they suddenly trembled with alarm at the sound of footsteps behind them, and, turning round, they perceived close at hand four tall, bearded men, dressed after the manner of livery servants and wearing flat caps on their heads. They were covering the two anglers with their rifles.
Nhưng họ bỗng run lên vì hoảng sợ khi nghe tiếng bước chân phía sau, và, quay lại, họ nhận ra ngay gần đó bốn người đàn ông cao lớn, để râu, ăn mặc theo kiểu gia nhân và đội mũ dẹt trên đầu. Chúng đang chĩa súng trường vào hai người câu cá.
The rods slipped from their owners' grasp and floated away down the river.
Những chiếc cần câu tuột khỏi tay chủ nhân của chúng và trôi dạt xuôi dòng sông.
In the space of a few seconds they were seized, bound, thrown into a boat, and taken across to the Ile Marante.
Chỉ trong vài giây, họ bị bắt giữ, trói lại, ném lên một chiếc thuyền, và đưa qua đảo Marante.
And behind the house they had thought deserted were about a score of German soldiers.
Và phía sau ngôi nhà mà họ tưởng đã bị bỏ hoang lại có khoảng hai mươi lính Đức.
A shaggy-looking giant, who was bestriding a chair and smoking a long clay pipe, addressed them in excellent French with the words:
Một người khổng lồ trông bù xù, đang ngồi vắt chân lên ghế và hút một chiếc tẩu đất sét dài, nói với họ bằng tiếng Pháp rất chuẩn:
“Well, gentlemen, have you had good luck with your fishing?”
“Chà, các quý ông, các vị đã câu được nhiều cá chưa?”
Then a soldier deposited at the officer's feet the bag full of fish, which he had taken care to bring away. The Prussian smiled.
Rồi một người lính đặt xuống chân viên sĩ quan chiếc túi đầy cá mà anh ta đã cẩn thận mang theo. Người Phổ mỉm cười.
“Not bad, I see. But we have something else to talk about. Listen to me, and don't be alarmed:
“Không tệ đâu, tôi thấy vậy. Nhưng chúng ta còn chuyện khác cần bàn. Hãy nghe tôi đây, và đừng hoảng sợ:
“You must know that, in my eyes, you are two spies sent to reconnoitre me and my movements. Naturally, I capture you and I shoot you. You pretended to be fishing, the better to disguise your real errand. You have fallen into my hands, and must take the consequences. Such is war.
“Các người phải biết rằng, trong mắt tôi, các người là hai gián điệp được cử đến để do thám tôi và những động thái của tôi. Đương nhiên, tôi bắt giữ các người và tôi sẽ bắn các người. Các người giả vờ câu cá, để che giấu tốt hơn nhiệm vụ thực sự của mình. Các người đã rơi vào tay tôi, và phải chịu hậu quả. Chiến tranh là vậy đó.
“But as you came here through the outposts you must have a password for your return. Tell me that password and I will let you go.”
“Nhưng vì các người đã đến đây qua các tiền đồn, chắc hẳn các người phải có một mật khẩu để quay về. Hãy nói cho tôi mật khẩu đó và tôi sẽ để các người đi.”
The two friends, pale as death, stood silently side by side, a slight fluttering of the hands alone betraying their emotion.
Hai người bạn, tái nhợt như người chết, đứng im lặng bên nhau, chỉ có một cái run nhẹ của đôi tay mới tiết lộ cảm xúc của họ.
“No one will ever know,” continued the officer. “You will return peacefully to your homes, and the secret will disappear with you. If you refuse, it means death-instant death. Choose!”
“Sẽ không ai biết được đâu,” viên sĩ quan tiếp tục. “Các người sẽ trở về nhà bình yên, và bí mật sẽ biến mất cùng các người. Nếu các người từ chối, điều đó có nghĩa là cái chết—cái chết tức thì. Hãy chọn đi!”
They stood motionless, and did not open their lips.
Họ đứng bất động, và không hé môi.
The Prussian, perfectly calm, went on, with hand outstretched toward the river:
Người Phổ, hoàn toàn điềm tĩnh, tiếp tục, tay chỉ về phía dòng sông:
“Just think that in five minutes you will be at the bottom of that water. In five minutes! You have relations, I presume?”
“Cứ nghĩ rằng trong năm phút nữa các người sẽ nằm dưới đáy dòng nước đó. Chỉ năm phút thôi! Tôi đoán các người có gia đình chứ?”
Mont-Valerien still thundered.
Núi Mont-Valérien vẫn còn gầm thét.
The two fishermen remained silent. The German turned and gave an order in his own language. Then he moved his chair a little way off, that he might not be so near the prisoners, and a dozen men stepped forward, rifle in hand, and took up a position, twenty paces off.
Hai người câu cá vẫn im lặng. Người Đức quay lại và ra lệnh bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Rồi anh ta dịch chiếc ghế của mình ra xa một chút, để không quá gần các tù nhân, và mười hai người bước tới, súng trường trong tay, và đứng vào vị trí, cách đó hai mươi bước.
“I give you one minute,” said the officer; “not a second longer.”
“Tôi cho các người một phút,” viên sĩ quan nói; “không thêm một giây nào nữa.”
Then he rose quickly, went over to the two Frenchmen, took Morissot by the arm, led him a short distance off, and said in a low voice:
Rồi anh ta nhanh chóng đứng dậy, đi đến chỗ hai người Pháp, nắm lấy cánh tay Morissot, dẫn ông đi một quãng ngắn, và nói bằng giọng trầm:
“Quick! the password! Your friend will know nothing. I will pretend to relent.”
“Nhanh lên! Mật khẩu! Bạn ông sẽ chẳng biết gì đâu. Tôi sẽ giả vờ nương tay.”
Morissot answered not a word.
Morissot không đáp lại một lời nào.
Then the Prussian took Monsieur Sauvage aside in like manner, and made him the same proposal.
Rồi người Phổ dẫn ông Sauvage sang một bên theo cách tương tự, và đưa ra cùng một lời đề nghị với ông.
Monsieur Sauvage made no reply.
Ông Sauvage không đáp lại.
Again they stood side by side.
Họ lại đứng cạnh nhau.
The officer issued his orders; the soldiers raised their rifles.
Viên sĩ quan ra lệnh; những người lính giương súng trường lên.
Then by chance Morissot's eyes fell on the bag full of gudgeon lying in the grass a few feet from him.
Rồi tình cờ, ánh mắt của Morissot rơi vào chiếc túi đầy cá bống nằm trên cỏ cách ông vài bước chân.
A ray of sunlight made the still quivering fish glisten like silver. And Morissot's heart sank. Despite his efforts at self-control his eyes filled with tears.
Một tia nắng khiến những con cá vẫn còn đang quẫy lấp lánh như bạc. Và trái tim Morissot chùng xuống. Dù cố gắng kiềm chế, mắt ông vẫn đẫm lệ.
“Good-by, Monsieur Sauvage,” he faltered.
“Tạm biệt, ông Sauvage,” ông ấp úng.
“Good-by, Monsieur Morissot,” replied Sauvage.
“Tạm biệt, ông Morissot,” Sauvage đáp.
They shook hands, trembling from head to foot with a dread beyond their mastery.
Họ bắt tay nhau, run rẩy từ đầu đến chân với một nỗi sợ hãi vượt ngoài tầm kiểm soát của họ.
The officer cried:
Viên sĩ quan hô lên:
“Fire!”
“Bắn!”
The twelve shots were as one.
Mười hai phát súng vang lên như một.
Monsieur Sauvage fell forward instantaneously. Morissot, being the taller, swayed slightly and fell across his friend with face turned skyward and blood oozing from a rent in the breast of his coat.
Ông Sauvage ngã sấp xuống ngay lập tức. Morissot, cao hơn, lảo đảo nhẹ rồi ngã đè lên bạn mình, mặt ngửa lên trời, máu rỉ ra từ một vết rách nơi ngực áo khoác.
The German issued fresh orders.
Người Đức ra thêm mệnh lệnh mới.
His men dispersed, and presently returned with ropes and large stones, which they attached to the feet of the two friends; then they carried them to the river bank.
Lính của anh ta giải tán, rồi chẳng bao lâu sau quay lại với dây thừng và những tảng đá lớn, mà họ buộc vào chân của hai người bạn; rồi họ khiêng hai người ra bờ sông.
Mont-Valerien, its summit now enshrouded in smoke, still continued to thunder.
Núi Mont-Valérien, đỉnh núi giờ đây chìm trong khói, vẫn tiếp tục gầm thét.
Two soldiers took Morissot by the head and the feet; two others did the same with Sauvage. The bodies, swung lustily by strong hands, were cast to a distance, and, describing a curve, fell feet foremost into the stream.
Hai người lính khiêng Morissot bằng đầu và chân; hai người khác làm tương tự với Sauvage. Những thi thể, được đung đưa mạnh mẽ bởi những bàn tay khỏe khoắn, bị ném ra xa, và, vẽ nên một đường vòng cung, rơi xuống dòng sông với chân đi trước.
The water splashed high, foamed, eddied, then grew calm; tiny waves lapped the shore.
Nước bắn tung tóe cao, sủi bọt, xoáy tròn, rồi lắng dịu; những con sóng nhỏ vỗ vào bờ.
A few streaks of blood flecked the surface of the river.
Vài vệt máu lấm tấm trên mặt sông.
The officer, calm throughout, remarked, with grim humor:
Viên sĩ quan, vẫn điềm tĩnh suốt cả lúc đó, nhận xét, với sự hài hước lạnh lùng:
“It's the fishes' turn now!”
“Giờ đến lượt lũ cá rồi!”
Then he retraced his way to the house.
Rồi anh ta quay trở lại con đường về nhà.
Suddenly he caught sight of the net full of gudgeons, lying forgotten in the grass. He picked it up, examined it, smiled, and called:
Bỗng nhiên anh ta bắt gặp chiếc lưới đầy cá bống, nằm bị bỏ quên trên cỏ. Anh ta nhặt nó lên, xem xét, mỉm cười, rồi gọi:
“Wilhelm!”
“Wilhelm!”
A white-aproned soldier responded to the summons, and the Prussian, tossing him the catch of the two murdered men, said:
Một người lính đeo tạp dề trắng đáp lại lời gọi, và người Phổ, ném cho anh ta số cá bắt được của hai người đàn ông vừa bị giết, nói:
“Have these fish fried for me at once, while they are still alive; they'll make a tasty dish.”
“Chiên số cá này cho ta ngay đi, trong lúc chúng vẫn còn sống; chúng sẽ làm nên một món ăn ngon đấy.”
Then he resumed his pipe.
Rồi anh ta lại tiếp tục hút tẩu thuốc của mình.