The Waiting Room
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ C1 cho người học, đọc trực tuyến bằng 2 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
Waiting alone while his girlfriend undergoes a medical scan, Felix realizes how long he has been postponing a conversation about their future and decides not to wait any longer to say it.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
Nadia had been in the imaging room for forty minutes. That left Felix alone with a waiting-room chair, a muted television running a home-renovation show neither of them would ever watch, and roughly two years of things he had never gotten around to saying. They had been together long enough that "together" had started to feel like an insufficient word for it. They had also been together short enough, apparently, that he had convinced himself there was no urgency in finding a better one.
Nadia đã ở trong phòng chụp chiếu được bốn mươi phút. Điều đó khiến Felix ngồi lại một mình với chiếc ghế phòng chờ, một chiếc tivi tắt tiếng đang chạy một chương trình cải tạo nhà mà chẳng ai trong hai người từng xem, và chừng hai năm những điều anh chưa từng nói ra. Họ đã ở bên nhau đủ lâu để chữ "bên nhau" bắt đầu nghe như không còn đủ để diễn tả điều đó. Nhưng họ cũng ở bên nhau đủ ngắn, dường như vậy, để anh tự thuyết phục mình rằng chẳng cần vội tìm một từ nào hay hơn.
The referral had used the phrase "just to rule things out," which he understood, intellectually, to be the reassuring version of the sentence. It hadn't stopped him from spending the drive over doing the specific, useless arithmetic of a person imagining a future collapsing before there was any evidence it needed to.
Giấy chuyển khám dùng cụm từ "chỉ để loại trừ khả năng," mà về mặt lý trí, anh hiểu đó là phiên bản trấn an của câu nói ấy. Nhưng điều đó không ngăn được anh, suốt cả chặng đường lái xe đến đây, làm cái phép tính vô nghĩa và cụ thể của một người đang tưởng tượng ra một tương lai sụp đổ trước khi có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy nó cần phải sụp đổ.
What struck him most, sitting there, was not fear exactly — it was the sudden, unwelcome clarity of realizing how much he had been treating their relationship as a draft. Somewhere in the last two years he had begun thinking of the conversation about moving in together as a thing to have eventually. It would happen once his lease ended, once work settled down, once some vague and endlessly renewable "once" had finally arrived. Had he actually believed they had unlimited time, he supposed that postponing might have made some sense. Sitting in a plastic chair under fluorescent light, he no longer believed anything of the kind. Not once, in two years, had he actually said any of this to her plainly.
Điều khiến anh chấn động nhất khi ngồi đó không hẳn là sợ hãi — mà là sự sáng rõ bất ngờ và không hề dễ chịu khi nhận ra anh đã đối xử với mối quan hệ của họ như một bản nháp suốt bao lâu nay. Đâu đó trong hai năm qua, anh đã bắt đầu nghĩ về cuộc trò chuyện dọn về sống chung như một điều "để rồi sẽ nói." Nó sẽ xảy ra khi hợp đồng thuê nhà của anh hết hạn, khi công việc ổn định hơn, khi cái "khi nào đó" mơ hồ và cứ liên tục lùi lại ấy cuối cùng cũng đến. Nếu anh thật sự tin rằng họ có thời gian vô hạn, anh nghĩ việc trì hoãn cũng có phần hợp lý. Nhưng ngồi trên chiếc ghế nhựa dưới ánh đèn huỳnh quang, anh không còn tin vào điều đó nữa. Trong suốt hai năm, chưa một lần anh thật sự nói rõ điều này với cô.
She came out paler than she'd gone in, though she managed a small, tired smile before he could ask. "They want a follow-up scan next week. Probably nothing. The doctor used the word 'probably' four separate times, which either means she's very confident or very careful."
Cô bước ra với vẻ mặt tái hơn lúc vào, nhưng vẫn kịp nở một nụ cười nhỏ, mệt mỏi trước khi anh kịp hỏi. "Họ muốn chụp lại lần nữa vào tuần sau. Có lẽ không có gì cả. Bác sĩ dùng từ 'có lẽ' đến bốn lần riêng biệt, nghĩa là bà ấy hoặc rất tự tin, hoặc rất cẩn trọng."
"Which do you think it is?"
"Em nghĩ là cái nào?"
"I think it's a doctor covering herself. I try not to read too much into doctors' adverbs."
"Em nghĩ là bác sĩ đang tự bảo vệ mình thôi. Em cố không suy diễn quá nhiều từ cách dùng từ của bác sĩ."
He laughed, more from relief at her voice sounding like her own than at the joke itself. Then, before he could wait for a better moment — a nicer restaurant, a calmer week, some more cinematic version of this exact sentence — he said the thing he'd been rehearsing for two years.
Anh bật cười, phần nhiều vì nhẹ nhõm khi nghe giọng cô vẫn là giọng của cô như thường ngày, hơn là vì câu nói đùa đó. Rồi, trước khi có thể chờ một thời điểm tốt hơn — một nhà hàng đẹp hơn, một tuần bình yên hơn, một phiên bản nào đó nghe điện ảnh hơn của đúng câu nói này — anh nói ra điều mà anh đã tập dượt suốt hai năm.
"I want us to actually live together. Not eventually. Not once my lease ends. I don't want to keep treating this like something we're still deciding on."
"Anh muốn hai đứa mình thật sự sống chung. Không phải là để rồi sẽ. Không phải là khi hợp đồng thuê nhà của anh hết hạn. Anh không muốn tiếp tục coi đây là điều mình vẫn còn đang cân nhắc."
Nadia looked at him for a long moment, in a waiting room that was, by any reasonable standard, an almost comically unromantic place to say something like that. "You're doing this now? In a room that smells like hand sanitizer?"
Nadia nhìn anh một lúc lâu, trong một phòng chờ mà theo bất kỳ chuẩn mực hợp lý nào, cũng là một nơi gần như buồn cười vì chẳng hề lãng mạn để nói ra điều như vậy. "Anh nói chuyện này ngay lúc này sao? Trong một căn phòng nồng nặc mùi nước rửa tay khô thế này?"
"I don't think I trusted myself to do it anywhere nicer. I'd have found a reason to wait."
"Anh nghĩ nếu ở một nơi đẹp hơn thì anh sẽ không đủ can đảm nói ra đâu. Anh sẽ lại tìm được lý do để chờ tiếp."
"Ask me again next week," she said, "once we actually know something." Then, quieter: "But don't wait longer than that."
"Hỏi em lại vào tuần sau đi," cô nói, "khi mình thật sự biết được điều gì đó." Rồi, nhỏ giọng hơn: "Nhưng đừng chờ lâu hơn thế nữa."






