The Light in the East Wing
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ C1 cho người học, đọc trực tuyến bằng 2 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
Simone spends weeks trying to decode her widowed neighbor's nightly lamp signal before learning it was never meant for her to solve.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
Simone's new bedroom faced the courtyard, and the courtyard faced the east wing, and it was there, on her third night in the building, that she first noticed the light.
Phòng ngủ mới của Simone nhìn ra sân trong, và sân trong nhìn sang khu nhà phía đông, và chính ở đó, vào đêm thứ ba cô sống trong tòa nhà, cô lần đầu tiên chú ý đến ánh đèn ấy.
It came on at exactly six-forty, stayed lit for eleven minutes, and went out. The next evening it did the same. Having nothing better to do in a city where she knew no one yet, Simone started timing it, convinced she had found a pattern worth solving. Six-forty came to feel less like a coincidence and more like an appointment somebody was keeping with an empty room.
Đèn bật lên đúng vào lúc sáu giờ bốn mươi, sáng trong mười một phút, rồi tắt. Tối hôm sau nó lại diễn ra như vậy. Không có việc gì tốt hơn để làm trong một thành phố mà cô chưa biết ai cả, Simone bắt đầu bấm giờ theo dõi, tin rằng mình đã tìm ra một quy luật đáng để giải mã. Sáu giờ bốn mươi dần không còn giống một sự trùng hợp nữa, mà giống một cuộc hẹn mà ai đó vẫn giữ với một căn phòng trống.
She mentioned it to her mother, who barely looked up from unpacking boxes. "That's Mr. Renner's flat. Poor man lost his wife last spring. Leave him be."
Cô nhắc chuyện này với mẹ, người hầu như không ngẩng đầu lên khỏi mấy thùng đồ đang mở dở. "Đó là nhà của ông Renner. Ông ấy đáng thương, mất vợ vào mùa xuân năm ngoái. Để ông ấy yên."
Simone did not leave him be, not entirely. She noticed him some mornings in the courtyard, a tall, unhurried man who watered a single pot of geraniums and nodded at neighbors without quite meeting their eyes. It was hard to picture him running any kind of code from that window, and harder still to imagine what message he could possibly be sending, or to whom.
Simone không để ông ấy hoàn toàn yên. Cô để ý thấy ông vào vài buổi sáng ở sân trong, một người đàn ông cao, chậm rãi, tưới nước cho một chậu hoa phong lữ duy nhất và gật đầu chào hàng xóm mà không hẳn nhìn thẳng vào mắt họ. Thật khó để tưởng tượng ông đang gửi bất kỳ loại mật mã nào từ cửa sổ đó, và càng khó hơn để đoán ông có thể đang gửi thông điệp gì, hay gửi cho ai.
By the second week she had a theory: Morse. She spent an evening with her phone propped against the glass, timing the light against a Morse chart she had found online, certain she was about to crack something. The intervals refused to cooperate. Nothing spelled out a word, a name, or anything resembling one. What had looked so deliberately structured from across the courtyard turned out, on close counting, to have no code in it at all — only the same eleven minutes, every evening, without variation.
Đến tuần thứ hai, cô đã có một giả thuyết: mã Morse. Cô dành một buổi tối dựng điện thoại tựa vào tấm kính, đối chiếu ánh đèn với một bảng mã Morse tìm được trên mạng, tin chắc mình đang sắp giải được điều gì đó. Nhưng các khoảng thời gian không chịu hợp tác. Không có gì ghép thành một từ, một cái tên, hay bất cứ thứ gì giống như vậy. Thứ trông có vẻ được sắp đặt tỉ mỉ đến thế khi nhìn từ bên kia sân trong, hóa ra khi đếm kỹ lại, chẳng chứa mật mã nào cả — chỉ là cùng mười một phút ấy, mỗi tối, không hề thay đổi.
It was a chance encounter by the mailboxes that finally explained it, not her spreadsheet of timings. Mr. Renner was struggling with a stuck lock, and Simone held the door while he wrestled his key free.
Chính một lần gặp bất ngờ bên hộp thư, không phải bảng ghi thời gian của cô, mới cuối cùng giải thích được mọi chuyện. Ông Renner đang vật lộn với một cái khóa bị kẹt, và Simone giữ cửa giúp khi ông cố gỡ chiếc chìa khóa ra.
"You're the girl who watches my window," he said, not unkindly, and she felt her face go hot. "My wife worked the evening shift for thirty years. Six-forty was when her train got in. I'd put the lamp on so she could see the flat was lit from the platform, and I'd leave it on until she was through the door."
"Cháu là cô gái vẫn theo dõi cửa sổ nhà tôi," ông nói, không có ý trách, và cô cảm thấy mặt mình nóng bừng. "Vợ tôi làm ca tối suốt ba mươi năm. Sáu giờ bốn mươi là lúc tàu của bà ấy đến. Tôi vẫn bật đèn lên để bà ấy có thể thấy nhà đã sáng đèn từ sân ga, và tôi để đèn sáng cho đến khi bà ấy bước qua cửa."
"And now?" Simone asked, before she could think better of it.
"Còn bây giờ?" Simone hỏi, trước khi kịp nghĩ lại.
"Now I put it on anyway," he said, "and I leave it on for exactly as long as it used to take her to walk from the station. Then I turn it off, because by then, in my head, she's home."
"Giờ tôi vẫn bật đèn," ông nói, "và để đèn sáng đúng khoảng thời gian bà ấy thường mất để đi bộ từ nhà ga về. Rồi tôi tắt đèn, vì đến lúc đó, trong đầu tôi, bà ấy đã về nhà."
Simone did not know what to say to that, so she said nothing, which turned out to be the right choice. Had she pressed him further, she suspected, he would have stopped telling her anything at all.
Simone không biết phải nói gì trước điều đó, nên cô không nói gì cả, và hóa ra đó lại là lựa chọn đúng. Cô nghĩ nếu cứ hỏi thêm, có lẽ ông sẽ không kể cho cô nghe điều gì nữa.
She never mentioned the light again, not to her mother, not to Mr. Renner himself. But most evenings now, at six-forty, she found some reason to be near her own window. She left her own lamp on until his went dark, a small and useless signal that nobody had asked her to send.
Cô không bao giờ nhắc đến ánh đèn ấy nữa, không với mẹ, cũng không với chính ông Renner. Nhưng giờ đây, hầu hết các buổi tối, đúng sáu giờ bốn mươi, cô lại tìm được một lý do nào đó để ở gần cửa sổ nhà mình. Cô để đèn của mình sáng cho đến khi đèn nhà ông tắt, một tín hiệu nhỏ bé và vô nghĩa mà chẳng ai yêu cầu cô gửi đi.






