The Locked Password Vault
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ B2 cho người học, đọc trực tuyến bằng 4 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
After her uncle's death, Francesca works out the master password to the family's locked digital vault from his habits, his jokes and an unfinished crossword.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
Three weeks after the funeral, the family still could not open her uncle's password vault. It held everything: the bank accounts, the insurance papers, forty years of photographs and the code for the garden shed. And it sat behind a single master password, which nobody had.
Ba tuần sau đám tang, gia đình vẫn không mở được kho mật khẩu của người bác. Nó chứa mọi thứ: các tài khoản ngân hàng, giấy tờ bảo hiểm, bốn mươi năm ảnh chụp và mã khóa nhà kho trong vườn. Và nó nằm sau một mật khẩu chủ duy nhất, thứ mà không ai có.
They had tried the obvious things. His birthday, in every format. His street. The name of his old dog. Each attempt had been answered by the vault's built-in assistant, a small, patient voice that said only, "That was not correct." On Sunday it added: "Two attempts remain before a seven-day lock."
Họ đã thử những điều hiển nhiên. Ngày sinh của bác, theo mọi định dạng. Tên phố nhà bác. Tên con chó cũ. Mỗi lần thử đều được trợ lý tích hợp của kho đáp lại, một giọng nói nhỏ nhẹ, kiên nhẫn chỉ nói: "Mật khẩu không chính xác." Hôm Chủ nhật nó thêm: "Còn hai lần thử trước khi bị khóa bảy ngày."
Francesca took the laptop home that night. She did not want to guess. Her uncle had been a careful man with a mischievous streak. He must have chosen something he could never forget and nobody else would think of.
Francesca mang chiếc máy tính xách tay về nhà tối đó. Cô không muốn đoán mò. Bác cô là một người cẩn thận nhưng có chút tinh nghịch. Hẳn bác đã chọn một thứ mà bác không bao giờ quên và không ai khác nghĩ ra.
She started with his habits. He had ended every phone call with the same words, "Still upright, thank you," whatever he was asked. He had said it even when he had a cold. She wrote the phrase on a sticky note.
Cô bắt đầu từ thói quen của bác. Bác kết thúc mọi cuộc gọi bằng cùng một câu, "Vẫn đứng vững, cảm ơn", dù được hỏi chuyện gì. Bác nói thế cả khi bị cảm. Cô viết cụm từ đó lên một tờ giấy nhớ.
Next came his jokes. Every year he had planted tomatoes, and every year he had claimed they were a gift for the neighbors' squirrels. He had also insisted that a good password needed a number, "so the computer feels respected."
Tiếp đến là những câu đùa của bác. Năm nào bác cũng trồng cà chua, và năm nào bác cũng khẳng định đó là quà cho lũ sóc nhà hàng xóm. Bác còn khăng khăng rằng một mật khẩu tốt cần có một con số, "để máy tính cảm thấy được tôn trọng".
That still was not enough. A phrase and a vegetable could not make a lock. She needed the number.
Vẫn chưa đủ. Một cụm từ và một loại rau không thể làm nên cái khóa. Cô cần con số.
On the desk, under the reading lamp, she found the Sunday crossword. It was half finished, in ink. His handwriting was neat until the middle of the grid, where it grew smaller, as if he had been tired. One clue had been circled twice: 23-down, "Red fruit often eaten as a vegetable, eight letters." The squares were empty.
Trên bàn làm việc, dưới ngọn đèn đọc sách, cô tìm thấy trang ô chữ ngày Chủ nhật. Nó mới điền một nửa, bằng mực. Nét chữ bác gọn gàng cho đến giữa bảng, nơi nó nhỏ dần lại, như thể bác đã mệt. Một gợi ý được khoanh tròn hai lần: 23 dọc, "Quả đỏ thường được ăn như rau, tám chữ cái." Các ô vuông còn trống.
Why circle something so easy? He would never have left an easy clue blank by accident. Unless the circle was not about the answer at all, but about the number.
Sao lại khoanh một gợi ý dễ đến vậy? Bác chẳng bao giờ bỏ trống một gợi ý dễ vì sơ ý. Trừ phi vòng tròn ấy không phải về đáp án, mà về con số.
She wrote out the three pieces: the phrase, the tomatoes, the 23. Then she tried to imagine him putting them together. Her aunt was watching from the sofa with a plate of cake.
Cô viết ra ba mảnh: cụm từ, những quả cà chua, số 23. Rồi cô cố tưởng tượng bác ghép chúng lại với nhau. Bác gái đang xem từ ghế sofa với một đĩa bánh.
"He always put the joke first and the number last," Francesca told her. "I'm nearly sure of it."
"Bác ấy luôn đặt câu đùa lên trước và con số xuống cuối," Francesca nói với bà. "Cháu gần như chắc chắn."
Her aunt shrugged. "If it were my vault, I would have used something simple."
Bác gái nhún vai. "Nếu là kho của bác, bác sẽ dùng thứ gì đó đơn giản."
"That's the difference. He would never use something simple. He would use something that belonged to us."
"Đó là điểm khác biệt. Bác ấy không bao giờ dùng thứ đơn giản. Bác ấy sẽ dùng thứ gì đó thuộc về chúng ta."
The cursor blinked in the empty box. After this try, one attempt would remain. She typed "StillUpright-Tomatoes-23" and pressed enter before she could hesitate.
Con trỏ nhấp nháy trong ô trống. Sau lần thử này sẽ chỉ còn một lần. Cô gõ "StillUpright-Tomatoes-23" và nhấn enter trước khi kịp do dự.
For a second, nothing happened. Then the screen brightened, and the small voice said, "That was correct. Welcome."
Một giây, chẳng có gì xảy ra. Rồi màn hình sáng lên, và giọng nói nhỏ nhẹ cất lên: "Mật khẩu chính xác. Chào mừng."
The first folder was named "For whoever gets here." Inside was a single text file. Her aunt put down her cake and leaned over her shoulder. They read it together: "If you are reading this, it took you long enough. The tomatoes were for you, not the squirrels. The shed code is 1234, and I am not proud of it."
Thư mục đầu tiên có tên "Dành cho ai đến được đây". Bên trong là một tệp văn bản duy nhất. Bác gái đặt đĩa bánh xuống và nghiêng người qua vai cô. Họ cùng đọc: "Nếu các cháu đang đọc dòng này thì mất khá lâu rồi đấy. Cà chua là cho các cháu, không phải cho lũ sóc. Mã nhà kho là 1234, và bác không tự hào về nó."
Her aunt laughed so hard that she had to hold the arm of the sofa. "That is him," she said. "That is exactly him."
Bác gái cười đến mức phải bám lấy tay vịn ghế sofa. "Đúng là ông ấy," bà nói. "Đúng y như ông ấy."






