Edward Mills and George Benton: A Tale
A free B2-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
Two foster brothers grow up under the same rule for success — one steady and dutiful, the other reckless and endlessly forgiven — until a shocking turn of events reveals which one society truly celebrates.
These two were distantly related to each other—seventh cousins, or something of that sort. While still babies they became orphans, and were adopted by the Brants, a childless couple, who quickly grew very fond of them. The Brants were always saying: “Be pure, honest, sober, industrious, and considerate of others, and success in life is assured.”
Hai người này có quan hệ họ hàng xa với nhau—anh em họ đời thứ bảy, hay đại loại như vậy. Khi còn là những đứa trẻ sơ sinh, cả hai đã mồ côi cha mẹ, và được nhà Brant, một cặp vợ chồng hiếm muộn, nhận nuôi, rồi nhanh chóng yêu thương chúng vô cùng. Nhà Brant luôn nói: "Hãy trong sạch, trung thực, điềm đạm, chăm chỉ, và biết quan tâm đến người khác, thì thành công trong đời chắc chắn sẽ đến."
The children heard this repeated some thousands of times before they understood it; they could repeat it themselves long before they could say the Lord's Prayer; it was painted over the nursery door, and was about the first thing they learned to read. It was destined to be the unswerving rule of Edward Mills's life. Sometimes the Brants changed the wording a little, and said: “Be pure, honest, sober, industrious, considerate, and you will never lack friends.”
Bọn trẻ nghe câu này lặp đi lặp lại hàng ngàn lần trước khi chúng hiểu được ý nghĩa; chúng có thể tự đọc thuộc lòng câu này từ lâu trước khi biết đọc kinh Lạy Cha; câu ấy được sơn trên cửa phòng trẻ, và là một trong những thứ đầu tiên chúng học đọc. Câu ấy định sẵn sẽ trở thành nguyên tắc bất di bất dịch trong cuộc đời Edward Mills. Đôi khi nhà Brant đổi đi một chút câu chữ, nói rằng: "Hãy trong sạch, trung thực, điềm đạm, chăm chỉ, biết quan tâm, và con sẽ không bao giờ thiếu bạn bè."
Baby Mills was a comfort to everybody about him. When he wanted candy and could not have it, he listened to reason, and contented himself without it. When Baby Benton wanted candy, he cried for it until he got it. Baby Mills took care of his toys; Baby Benton always destroyed his in a very brief time, and then made himself so insistently disagreeable that, in order to have peace in the house, little Edward was persuaded to yield up his play-things to him.
Cậu bé Mills là niềm an ủi cho mọi người xung quanh. Khi muốn kẹo mà không được, cậu biết nghe lẽ phải, và tự bằng lòng mà không cần đến nó. Còn khi cậu bé Benton muốn kẹo, cậu khóc lóc cho đến khi có được nó mới thôi. Cậu bé Mills luôn giữ gìn đồ chơi của mình; cậu bé Benton lại luôn phá hỏng đồ chơi của mình trong thời gian rất ngắn, rồi tự biến mình thành kẻ khó chịu đến mức, để giữ yên bình trong nhà, cậu Edward nhỏ bé bị thuyết phục phải nhường đồ chơi của mình cho cậu.
When the children were a little older, Georgie became a heavy expense in one respect: he took no care of his clothes; consequently, he shone frequently in new ones, which was not the case with Eddie. The boys grew apace. Eddie was an increasing comfort, Georgie an increasing solicitude. It was always sufficient to say, in answer to Eddie's petitions, “I would rather you would not do it”—meaning swimming, skating, picnicking, berrying, circusing, and all sorts of things which boys delight in. But no answer was sufficient for Georgie; he had to be humored in his desires, or he would carry them with a high hand.
Khi bọn trẻ lớn hơn một chút, Georgie trở thành một khoản chi tiêu nặng nề ở một khía cạnh: cậu không hề chăm sóc quần áo của mình; do đó cậu thường xuyên khoác lên người những bộ đồ mới, điều mà Eddie thì không như vậy. Hai cậu bé lớn nhanh. Eddie ngày càng là niềm an ủi lớn, còn Georgie ngày càng là mối lo lắng lớn. Chỉ cần nói, để đáp lại những lời xin phép của Eddie, "Ba mẹ mong con đừng làm điều đó"—ý muốn nói đến chuyện bơi lội, trượt băng, đi picnic, hái quả mọng, xem xiếc, và đủ loại thứ mà các cậu bé thích thú—là đủ. Nhưng chẳng có câu trả lời nào là đủ với Georgie; cậu phải được chiều theo ý muốn, nếu không cậu sẽ tự làm theo ý mình bằng mọi cách.
Naturally, no boy got more swimming skating, berrying, and so forth than he; no body ever had a better time. The good Brants did not allow the boys to play out after nine in summer evenings; they were sent to bed at that hour; Eddie honorably remained, but Georgie usually slipped out of the window toward ten, and enjoyed himself until midnight.
Đương nhiên, chẳng có cậu bé nào được bơi lội, trượt băng, hái quả mọng, và vân vân nhiều hơn cậu; chẳng ai có được thời gian vui vẻ hơn cậu. Nhà Brant tốt bụng không cho phép bọn trẻ chơi ngoài trời sau chín giờ tối vào mùa hè; chúng phải đi ngủ vào giờ đó; Eddie ngoan ngoãn ở lại, nhưng Georgie thường trèo qua cửa sổ ra ngoài lúc mười giờ, và tận hưởng niềm vui cho đến nửa đêm.
It seemed impossible to break Georgie of this bad habit, but the Brants managed it at last by hiring him, with apples and marbles, to stay in. The good Brants gave all their time and attention to vain endeavors to regulate Georgie; they said, with grateful tears in their eyes, that Eddie needed no efforts of theirs, he was so good, so considerate, and in all ways so perfect.
Có vẻ như không thể sửa được thói xấu này của Georgie, nhưng cuối cùng nhà Brant cũng làm được, bằng cách "thuê" cậu ở lại nhà bằng táo và bi. Nhà Brant tốt bụng dành hết thời gian và sự chú ý của mình cho những nỗ lực vô ích nhằm uốn nắn Georgie; họ nói, với những giọt nước mắt biết ơn trong mắt, rằng Eddie không cần họ phải cố gắng gì cả, cậu đã tốt lành, biết quan tâm, và hoàn hảo đến vậy trong mọi mặt.
By and by the boys were big enough to work, so they were apprenticed to a trade: Edward went voluntarily; George was coaxed and bribed. Edward worked hard and faithfully, and ceased to be an expense to the good Brants; they praised him, so did his master; but George ran away, and it cost Mr. Brant both money and trouble to hunt him up and get him back.
Rồi bọn trẻ đủ lớn để đi làm, nên chúng được cho học nghề: Edward tự nguyện đi học; George phải được dỗ dành và mua chuộc. Edward làm việc chăm chỉ và tận tụy, không còn là gánh nặng chi phí cho nhà Brant tốt bụng nữa; họ khen cậu, người thầy dạy nghề cũng vậy; nhưng George bỏ trốn, và ông Brant phải tốn cả tiền bạc lẫn công sức để tìm và đưa cậu về.
By and by he ran away again—more money and more trouble. He ran away a third time—and stole a few things to carry with him. Trouble and expense for Mr. Brant once more; and, besides, it was with the greatest difficulty that he succeeded in persuading the master to let the youth go unprosecuted for the theft.
Rồi cậu lại bỏ trốn lần nữa—tốn thêm tiền bạc và công sức. Cậu bỏ trốn lần thứ ba—và ăn trộm vài thứ mang theo. Lại thêm rắc rối và chi phí cho ông Brant một lần nữa; và, hơn nữa, ông phải hết sức khó khăn mới thuyết phục được người thầy dạy nghề không kiện cáo cậu thanh niên ấy vì tội trộm cắp.
Edward worked steadily along, and in time became a full partner in his master's business. George did not improve; he kept the loving hearts of his aged benefactors full of trouble, and their hands full of inventive activities to protect him from ruin. Edward, as a boy, had interested himself in Sunday-schools, debating societies, penny missionary affairs, anti-tobacco organizations, anti-profanity associations, and all such things; as a man, he was a quiet but steady and reliable helper in the church, the temperance societies, and in all movements looking to the aiding and uplifting of men. This excited no remark, attracted no attention—for it was his “natural bent.”
Edward làm việc đều đặn, và theo thời gian trở thành một đối tác đầy đủ trong công việc kinh doanh của thầy mình. George thì chẳng tiến bộ gì; cậu vẫn khiến trái tim yêu thương của những ân nhân già của mình đầy ắp muộn phiền, và đôi bàn tay họ đầy ắp những sáng kiến để bảo vệ cậu khỏi con đường hủy hoại. Edward, khi còn là một cậu bé, đã tự nguyện tham gia các lớp học Chủ nhật, các hội tranh luận, các hoạt động truyền giáo góp từng xu, các tổ chức chống thuốc lá, các hiệp hội chống lời tục tĩu, và tất cả những việc như vậy; khi trưởng thành, cậu là một người giúp đỡ lặng lẽ nhưng vững vàng, đáng tin cậy trong nhà thờ, các hội cai rượu, và trong mọi phong trào nhằm giúp đỡ và nâng đỡ con người. Điều này chẳng gây ra lời bàn tán nào, chẳng thu hút sự chú ý nào—vì đó chỉ là "bản tính tự nhiên" của cậu.
Finally, the old people died. The will testified their loving pride in Edward, and left their little property to George—because he “needed it”; whereas, “owing to a bountiful Providence,” such was not the case with Edward. The property was left to George conditionally: he must buy out Edward's partner with it; else it must go to a benevolent organization called the Prisoner's Friend Society. The old people left a letter, in which they begged their dear son Edward to take their place and watch over George, and help and shield him as they had done.
Cuối cùng, hai ông bà già qua đời. Di chúc thể hiện niềm tự hào yêu thương của họ dành cho Edward, nhưng lại để lại tài sản nhỏ bé của họ cho George—vì cậu "cần đến nó"; trong khi, "nhờ ơn Trời ban phước dồi dào," Edward thì không rơi vào trường hợp đó. Tài sản được để lại cho George với điều kiện: cậu phải dùng nó để mua lại phần của người hùn vốn với Edward; nếu không nó phải chuyển cho một tổ chức từ thiện gọi là Hội Bạn của Tù Nhân. Hai ông bà già để lại một lá thư, trong đó họ khẩn cầu người con trai yêu quý Edward hãy thay họ trông nom George, giúp đỡ và che chở cậu như họ đã từng làm.
Edward dutifully acquiesced, and George became his partner in the business. He was not a valuable partner: he had been meddling with drink before; he soon developed into a constant tippler now, and his flesh and eyes showed the fact unpleasantly. Edward had been courting a sweet and kindly spirited girl for some time. They loved each other dearly, and—But about this period George began to haunt her tearfully and imploringly, and at last she went crying to Edward, and said her high and holy duty was plain before her—she must not let her own selfish desires interfere with it: she must marry “poor George” and “reform him.”
Edward vâng lời chấp thuận, và George trở thành người hùn vốn của cậu trong công việc kinh doanh. George không phải là một người hùn vốn có giá trị: cậu đã từng dính vào rượu chè trước đó; giờ đây cậu nhanh chóng trở thành một kẻ nghiện rượu triền miên, và da thịt cùng đôi mắt cậu để lộ điều đó một cách khó coi. Edward đã tán tỉnh một cô gái dịu dàng, tốt bụng một thời gian. Họ yêu nhau tha thiết, và—Nhưng vào khoảng thời gian này George bắt đầu quấy rầy cô, khóc lóc và van nài, và cuối cùng cô đến gặp Edward trong nước mắt, nói rằng bổn phận cao cả và thiêng liêng của mình đã rõ ràng trước mắt—cô không được để những ham muốn ích kỷ của bản thân cản trở nó: cô phải cưới "George tội nghiệp" và "cải tạo cậu ấy."
It would break her heart, she knew it would, and so on; but duty was duty. So she married George, and Edward's heart came very near breaking, as well as her own. However, Edward recovered, and married another girl—a very excellent one she was, too.
Chuyện đó sẽ khiến trái tim cô tan nát, cô biết rõ điều đó, và vân vân; nhưng bổn phận vẫn là bổn phận. Vậy nên cô cưới George, và trái tim Edward suýt nữa cũng tan nát, cũng như trái tim cô vậy. Tuy nhiên, Edward đã vượt qua, và cưới một cô gái khác—một người rất tuyệt vời không kém.
Children came to both families. Mary did her honest best to reform her husband, but the contract was too large. George went on drinking, and by and by he fell to misusing her and the little ones sadly. A great many good people strove with George—they were always at it, in fact—but he calmly took such efforts as his due and their duty, and did not mend his ways. He added a vice, presently—that of secret gambling. He got deeply in debt; he borrowed money on the firm's credit, as quietly as he could, and carried this system so far and so successfully that one morning the sheriff took possession of the establishment, and the two cousins found themselves penniless.
Con cái đến với cả hai gia đình. Mary đã cố gắng hết sức một cách trung thực để cải tạo chồng mình, nhưng nhiệm vụ ấy quá sức nàng. George vẫn tiếp tục uống rượu, và chẳng bao lâu cậu sa vào việc đối xử tệ bạc với nàng và những đứa con nhỏ một cách đáng buồn. Rất nhiều người tốt bụng đã cố gắng khuyên nhủ George—thực ra họ luôn làm vậy—nhưng cậu bình thản coi những nỗ lực ấy là điều đương nhiên mình đáng được nhận và là bổn phận của họ, chứ không hề sửa đổi. Chẳng bao lâu cậu còn thêm một thói xấu nữa—cờ bạc lén lút. Cậu nợ nần chồng chất; cậu vay tiền dựa vào tín dụng của công ty, càng lặng lẽ càng tốt, và thực hiện hệ thống này xa đến mức và thành công đến mức một buổi sáng nọ, cảnh sát trưởng đã tiếp quản cơ sở kinh doanh, và hai người anh em họ thấy mình trắng tay.
Times were hard, now, and they grew worse. Edward moved his family into a garret, and walked the streets day and night, seeking work. He begged for it, but it was really not to be had. He was astonished to see how soon his face became unwelcome; he was astonished and hurt to see how quickly the ancient interest which people had had in him faded out and disappeared. Still, he must get work; so he swallowed his chagrin, and toiled on in search of it. At last he got a job of carrying bricks up a ladder in a hod, and was a grateful man in consequence; but after that nobody knew him or cared anything about him.
Thời buổi khi ấy khó khăn, và ngày càng tệ hơn. Edward chuyển gia đình vào một căn gác xép, và đi bộ khắp đường phố ngày đêm để tìm việc làm. Anh cầu xin công việc, nhưng thực sự chẳng có việc gì cả. Anh ngạc nhiên khi thấy gương mặt mình nhanh chóng trở nên không được chào đón đến vậy; anh ngạc nhiên và tổn thương khi thấy sự quan tâm mà mọi người từng dành cho anh phai nhạt và biến mất nhanh đến nhường nào. Dù vậy, anh vẫn phải tìm việc; nên anh nuốt cơn tức giận, tiếp tục lao động tìm kiếm. Cuối cùng anh kiếm được một chân khuân gạch lên thang bằng máng gỗ, và vì thế mà cảm thấy biết ơn; nhưng sau đó chẳng ai còn biết đến anh hay quan tâm đến anh nữa.
He was not able to keep up his dues in the various moral organizations to which he belonged, and had to endure the sharp pain of seeing himself brought under the disgrace of suspension.
Anh không thể duy trì các khoản đóng góp cho những tổ chức đạo đức khác nhau mà mình từng tham gia, và phải chịu đựng nỗi đau nhói khi thấy mình bị đưa vào cảnh nhục nhã của việc bị đình chỉ tư cách hội viên.
But the faster Edward died out of public knowledge and interest, the faster George rose in them. He was found lying, ragged and drunk, in the gutter one morning. A member of the Ladies' Temperance Refuge fished him out, took him in hand, got up a subscription for him, kept him sober a whole week, then got a situation for him. An account of it was published.
Nhưng Edward càng nhanh chóng biến mất khỏi sự chú ý và hiểu biết của công chúng bao nhiêu, thì George lại càng nhanh chóng nổi lên trong đó bấy nhiêu. Một buổi sáng nọ người ta thấy cậu nằm trong rãnh nước, rách rưới và say khướt. Một thành viên của Hội Bảo Trợ Cai Rượu Của Các Quý Bà đã vớt cậu lên, chăm sóc cậu, quyên góp tiền cho cậu, giữ cho cậu tỉnh táo suốt cả một tuần, rồi kiếm cho cậu một công việc. Chuyện này được đăng báo.
General attention was thus drawn to the poor fellow, and a great many people came forward and helped him toward reform with their countenance and encouragement. He did not drink a drop for two months, and meantime was the pet of the good. Then he fell—in the gutter; and there was general sorrow and lamentation. But the noble sisterhood rescued him again.
Sự chú ý của công chúng nhờ đó dồn về chàng trai tội nghiệp, và rất nhiều người đứng ra giúp đỡ cậu hướng đến việc cải tạo bằng sự ủng hộ và động viên của họ. Cậu không đụng đến một giọt rượu nào suốt hai tháng, và trong thời gian đó trở thành cưng của những người tốt bụng. Rồi cậu lại ngã—xuống rãnh nước; và có một nỗi buồn thương chung lan rộng. Nhưng hội chị em cao quý ấy lại cứu cậu một lần nữa.
They cleaned him up, they fed him, they listened to the mournful music of his repentances, they got him his situation again. An account of this, also, was published, and the town was drowned in happy tears over the re-restoration of the poor beast and struggling victim of the fatal bowl. A grand temperance revival was got up, and after some rousing speeches had been made the chairman said, impressively: “We are not about to call for signers; and I think there is a spectacle in store for you which not many in this house will be able to view with dry eyes.”
Họ tắm rửa sạch sẽ cho cậu, họ cho cậu ăn, họ lắng nghe khúc nhạc bi ai của những lời sám hối của cậu, họ lại kiếm việc cho cậu lần nữa. Chuyện này cũng được đăng báo, và cả thị trấn chìm trong nước mắt hạnh phúc trước sự phục hồi trở lại của con thú tội nghiệp và nạn nhân đang vật lộn với chén rượu định mệnh ấy. Một cuộc phục hưng phong trào cai rượu vĩ đại được tổ chức, và sau vài bài diễn thuyết đầy khích lệ, vị chủ tọa nói, đầy ấn tượng: "Chúng ta sắp kêu gọi ký tên; và tôi nghĩ có một cảnh tượng đang chờ đợi quý vị mà không nhiều người trong hội trường này có thể xem mà không rơi lệ."
There was an eloquent pause, and then George Benton, escorted by a red-sashed detachment of the Ladies of the Refuge, stepped forward upon the platform and signed the pledge. The air was rent with applause, and everybody cried for joy. Everybody wrung the hand of the new convert when the meeting was over; his salary was enlarged next day; he was the talk of the town, and its hero. An account of it was published.
Có một khoảng dừng đầy hùng biện, rồi George Benton, được hộ tống bởi một toán các Quý Bà của Hội Bảo Trợ đeo dải băng đỏ, bước lên bục và ký vào bản cam kết. Không khí vang dội tiếng vỗ tay, và mọi người đều khóc vì vui sướng. Mọi người siết chặt tay người vừa cải đạo khi buổi họp kết thúc; lương của cậu được tăng vào ngày hôm sau; cậu trở thành đề tài bàn tán của cả thị trấn, là người hùng của nó. Chuyện này được đăng báo.
George Benton fell, regularly, every three months, but was faithfully rescued and wrought with, every time, and good situations were found for him. Finally, he was taken around the country lecturing, as a reformed drunkard, and he had great houses and did an immense amount of good.
George Benton đều đặn ngã ngựa, cứ ba tháng một lần, nhưng lần nào cũng được tận tình cứu giúp và khuyên nhủ, và người ta luôn tìm được cho cậu những công việc tốt. Cuối cùng, cậu được đưa đi diễn thuyết khắp đất nước, với tư cách một kẻ nghiện rượu đã hoàn lương, thu hút những khán phòng đông đúc và làm được vô số điều tốt đẹp.
He was so popular at home, and so trusted—during his sober intervals—that he was enabled to use the name of a principal citizen, and get a large sum of money at the bank. A mighty pressure was brought to bear to save him from the consequences of his forgery, and it was partially successful—he was “sent up” for only two years.
Cậu được yêu mến ở quê nhà đến vậy, và được tin tưởng đến vậy—trong những khoảng thời gian tỉnh táo—đến mức cậu có thể lợi dụng tên tuổi của một công dân có uy tín để vay được một khoản tiền lớn tại ngân hàng. Một áp lực mạnh mẽ được tạo ra để cứu cậu khỏi hậu quả của tội giả mạo, và điều đó phần nào thành công—cậu chỉ bị "tống giam" hai năm.
When, at the end of a year, the tireless efforts of the benevolent were crowned with success, and he emerged from the penitentiary with a pardon in his pocket, the Prisoner's Friend Society met him at the door with a situation and a comfortable salary, and all the other benevolent people came forward and gave him advice, encouragement and help. Edward Mills had once applied to the Prisoner's Friend Society for a situation, when in dire need, but the question, “Have you been a prisoner?” made brief work of his case.
Khi, sau một năm, những nỗ lực không mệt mỏi của những người từ tâm cuối cùng cũng đơm hoa kết trái, và cậu bước ra khỏi nhà tù với lệnh ân xá trong túi, Hội Bạn của Tù Nhân đã đón cậu ngay tại cửa với một công việc và mức lương thoải mái, và tất cả những người từ tâm khác cũng đứng ra cho cậu lời khuyên, sự động viên và giúp đỡ. Edward Mills từng nộp đơn xin việc tại Hội Bạn của Tù Nhân, khi lâm vào cảnh túng quẫn cùng cực, nhưng câu hỏi, "Anh đã từng ở tù chưa?" đã nhanh chóng khép lại trường hợp của anh.
While all these things were going on, Edward Mills had been quietly making head against adversity. He was still poor, but was in receipt of a steady and sufficient salary, as the respected and trusted cashier of a bank. George Benton never came near him, and was never heard to inquire about him. George got to indulging in long absences from the town; there were ill reports about him, but nothing definite.
Trong khi tất cả những chuyện này diễn ra, Edward Mills vẫn lặng lẽ chống chọi với nghịch cảnh. Anh vẫn nghèo, nhưng nhận được mức lương ổn định và đủ sống, với tư cách là thủ quỹ đáng kính và đáng tin cậy của một ngân hàng. George Benton chưa bao giờ đến gần anh, và cũng chưa từng nghe nói cậu hỏi thăm về anh. George bắt đầu vắng mặt khỏi thị trấn trong thời gian dài; có những tin đồn xấu về cậu, nhưng không có gì chắc chắn.
One winter's night some masked burglars forced their way into the bank, and found Edward Mills there alone. They commanded him to reveal the “combination,” so that they could get into the safe. He refused. They threatened his life. He said his employers trusted him, and he could not be traitor to that trust. He could die, if he must, but while he lived he would be faithful; he would not yield up the “combination.” The burglars killed him.
Một đêm mùa đông nọ, vài tên trộm bịt mặt đột nhập vào ngân hàng, và thấy Edward Mills đang ở đó một mình. Chúng ra lệnh cho anh tiết lộ "mã số" để chúng có thể mở được két sắt. Anh từ chối. Chúng đe dọa tính mạng anh. Anh nói rằng những người chủ đã tin tưởng anh, và anh không thể phản bội lòng tin đó. Anh có thể chết, nếu phải chết, nhưng chừng nào còn sống anh sẽ vẫn trung thành; anh sẽ không tiết lộ "mã số" ấy. Bọn cướp giết anh.
The detectives hunted down the criminals; the chief one proved to be George Benton. A wide sympathy was felt for the widow and orphans of the dead man, and all the newspapers in the land begged that all the banks in the land would testify their appreciation of the fidelity and heroism of the murdered cashier by coming forward with a generous contribution of money in aid of his family, now bereft of support.
Các thám tử truy lùng bọn tội phạm; kẻ cầm đầu hóa ra chính là George Benton. Một làn sóng cảm thông rộng lớn dành cho người vợ góa và những đứa con mồ côi của người đàn ông đã khuất, và tất cả các tờ báo trong cả nước kêu gọi mọi ngân hàng trên toàn quốc thể hiện sự trân trọng đối với lòng trung thành và sự anh dũng của người thủ quỹ đã bị sát hại bằng cách đóng góp hào phóng tiền bạc để giúp đỡ gia đình anh, giờ đây đã mất đi chỗ dựa.
The result was a mass of solid cash amounting to upward of five hundred dollars—an average of nearly three-eights of a cent for each bank in the Union. The cashier's own bank testified its gratitude by endeavoring to show (but humiliatingly failed in it) that the peerless servant's accounts were not square, and that he himself had knocked his brains out with a bludgeon to escape detection and punishment.
Kết quả là một khoản tiền mặt chắc chắn lên đến hơn năm trăm đô la—trung bình gần ba phần tám xu cho mỗi ngân hàng trong cả Liên bang. Chính ngân hàng của người thủ quỹ đã thể hiện lòng biết ơn của mình bằng cách cố gắng chứng minh (nhưng thất bại một cách nhục nhã) rằng sổ sách của người đầy tớ vô song ấy không minh bạch, và rằng chính anh đã tự đập vỡ đầu mình bằng dùi cui để tránh bị phát hiện và trừng phạt.
George Benton was arraigned for trial. Then everybody seemed to forget the widow and orphans in their solicitude for poor George. Everything that money and influence could do was done to save him, but it all failed; he was sentenced to death. Straightway the Governor was besieged with petitions for commutation or pardon; they were brought by tearful young girls; by sorrowful old maids; by deputations of pathetic widows; by shoals of impressive orphans. But no, the Governor—for once—would not yield.
George Benton bị đưa ra xét xử. Rồi mọi người dường như quên bẵng người vợ góa và những đứa trẻ mồ côi trong nỗi lo lắng của họ dành cho George tội nghiệp. Mọi thứ mà tiền bạc và ảnh hưởng có thể làm đều được thực hiện để cứu cậu, nhưng tất cả đều thất bại; cậu bị kết án tử hình. Ngay lập tức Thống đốc bị bao vây bởi những đơn thỉnh cầu giảm án hoặc ân xá; chúng được mang đến bởi những cô gái trẻ rơi lệ; bởi những bà cô già buồn bã; bởi các phái đoàn của những góa phụ đáng thương; bởi hàng đàn trẻ mồ côi gây xúc động. Nhưng không, Thống đốc—lần này—vẫn không nhượng bộ.
Now George Benton experienced religion. The glad news flew all around. From that time forth his cell was always full of girls and women and fresh flowers; all the day long there was prayer, and hymn-singing, and thanksgiving, and homilies, and tears, with never an interruption, except an occasional five-minute intermission for refreshments.
Giờ đây George Benton trải nghiệm đức tin tôn giáo. Tin vui lan truyền khắp nơi. Từ đó trở đi phòng giam cậu luôn đầy các cô gái, phụ nữ và hoa tươi; suốt cả ngày là cầu nguyện, hát thánh ca, tạ ơn, giảng đạo, và nước mắt, không hề gián đoạn, ngoại trừ thỉnh thoảng nghỉ năm phút để dùng chút đồ ăn nhẹ.
This sort of thing continued up to the very gallows, and George Benton went proudly home, in the black cap, before a wailing audience of the sweetest and best that the region could produce. His grave had fresh flowers on it every day, for a while, and the head-stone bore these words, under a hand pointing aloft: “He has fought the good fight.”
Chuyện như vậy tiếp diễn cho đến tận giá treo cổ, và George Benton kiêu hãnh bước về cõi vĩnh hằng, trong chiếc mũ trùm đen, trước một đám khán giả than khóc gồm những người ngọt ngào và tốt đẹp nhất mà vùng đất ấy có thể sản sinh ra. Ngôi mộ cậu có hoa tươi mỗi ngày, trong một thời gian, và bia mộ khắc những dòng chữ này, dưới hình một bàn tay chỉ lên trời: "Người đã chiến đấu trận chiến tốt đẹp."
The brave cashier's head-stone has this inscription: “Be pure, honest, sober, industrious, considerate, and you will never—”
Bia mộ của người thủ quỹ dũng cảm khắc dòng chữ này: "Hãy trong sạch, trung thực, điềm đạm, chăm chỉ, biết quan tâm, và con sẽ không bao giờ—"
Nobody knows who gave the order to leave it that way, but it was so given.
Không ai biết ai đã ra lệnh để dòng chữ dang dở như vậy, nhưng lệnh ấy đã được ban ra như thế.
The cashier's family are in stringent circumstances, now, it is said; but no matter; a lot of appreciative people, who were not willing that an act so brave and true as his should go unrewarded, have collected forty-two thousand dollars—and built a Memorial Church with it.
Người ta nói rằng gia đình người thủ quỹ hiện đang trong hoàn cảnh chật vật; nhưng không sao cả; một nhóm người biết trân trọng, không muốn để một hành động dũng cảm và chân thành như của anh trôi qua mà không được đền đáp, đã quyên góp được bốn mươi hai nghìn đô la—và xây một Nhà Thờ Tưởng Niệm bằng số tiền đó.