Storyteller

The Piece of String

A free B2-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.

Level
B2
Genres
literary, drama
Reading time
12 min
Languages available
EN, VI, ES, ZH, PT, HI, ID
The Piece of String cover

When a frugal old peasant is seen stooping to pick up a scrap of string, a rival's cruel guess brands him a thief — and no matter how loudly he protests, no one will believe the truth.

It was market-day, and from all the country round Goderville the peasants and their wives were coming toward the town. The men walked slowly, throwing the whole body forward at every step of their long, crooked legs. They were deformed from pushing the plough which makes the left-shoulder higher, and bends their figures side-ways; from reaping the grain, when they have to spread their legs so as to keep on their feet. Their starched blue blouses, glossy as though varnished, ornamented at collar and cuffs with a little embroidered design and blown out around their bony bodies, looked very much like balloons about to soar, whence issued two arms and two feet.

Hôm đó là phiên chợ, và từ khắp vùng quê quanh Goderville, những người nông dân và vợ họ đang kéo về phía thị trấn. Những người đàn ông bước chậm rãi, hất cả người về phía trước ở mỗi bước chân với đôi chân dài, cong queo. Họ bị biến dạng vì đẩy cày khiến vai trái cao hơn, và uốn cong thân hình về một bên; vì gặt lúa, khi họ phải dang chân ra để đứng vững. Những chiếc áo choàng xanh hồ cứng của họ, bóng loáng như được đánh véc-ni, trang trí ở cổ áo và cổ tay bằng những họa tiết thêu nhỏ và phồng lên quanh thân hình gầy guộc của họ, trông rất giống những quả bóng bay sắp bay lên, từ đó thò ra hai cánh tay và hai bàn chân.

Some of these fellows dragged a cow or a calf at the end of a rope. And just behind the animal followed their wives beating it over the back with a leaf-covered branch to hasten its pace, and carrying large baskets out of which protruded the heads of chickens or ducks. These women walked more quickly and energetically than the men, with their erect, dried-up figures, adorned with scanty little shawls pinned over their flat bosoms, and their heads wrapped round with a white cloth, enclosing the hair and surmounted by a cap.

Vài người trong số họ dắt một con bò hoặc bê ở đầu sợi dây. Và ngay phía sau con vật là các bà vợ đi theo, đánh lên lưng nó bằng một cành cây có lá để giục nó đi nhanh hơn, và mang theo những chiếc giỏ lớn từ đó thò ra đầu gà hoặc vịt. Những người phụ nữ này bước nhanh và hoạt bát hơn đàn ông, với thân hình thẳng đứng, khô gầy, khoác những chiếc khăn choàng nhỏ bé cài trên ngực phẳng, và đầu quấn khăn trắng, bọc lấy tóc và đội thêm một chiếc mũ chụp.

Now a char-a-banc passed by, jogging along behind a nag and shaking up strangely the two men on the seat, and the woman at the bottom of the cart who held fast to its sides to lessen the hard jolting.

Rồi một chiếc xe ngựa char-a-banc đi qua, lắc lư theo sau một con ngựa còm và xóc mạnh một cách kỳ lạ hai người đàn ông ngồi trên ghế, và người phụ nữ ngồi dưới đáy xe đang bám chặt vào thành xe để giảm bớt sự xóc nảy dữ dội.

In the market-place at Goderville was a great crowd, a mingled multitude of men and beasts. The horns of cattle, the high, long-napped hats of wealthy peasants, the head-dresses of the women came to the surface of that sea. And the sharp, shrill, barking voices made a continuous, wild din, while above it occasionally rose a huge burst of laughter from the sturdy lungs of a merry peasant or a prolonged bellow from a cow tied fast to the wall of a house.

Tại quảng trường chợ ở Goderville là một đám đông lớn, một tập hợp lẫn lộn giữa người và thú vật. Những chiếc sừng bò, những chiếc mũ cao, lông xù dài của những nông dân giàu có, những chiếc khăn đội đầu của phụ nữ nổi lên trên bề mặt của biển người đó. Và những giọng nói sắc nhọn, chói tai, lanh lảnh tạo nên một tiếng ồn dữ dội liên tục, thỉnh thoảng lại vang lên một tràng cười lớn từ lồng ngực khỏe mạnh của một người nông dân vui vẻ hay tiếng rống kéo dài của một con bò bị buộc chặt vào tường một ngôi nhà.

It all smelled of the stable, of milk, of hay and of perspiration, giving off that half-human, half-animal odor which is peculiar to country folks.

Tất cả đều phảng phất mùi chuồng ngựa, mùi sữa, mùi cỏ khô và mùi mồ hôi, tỏa ra thứ mùi nửa người nửa thú đặc trưng của dân quê.

Maitre Hauchecorne, of Breaute, had just arrived at Goderville and was making his way toward the square when he perceived on the ground a little piece of string. Maitre Hauchecorne, economical as are all true Normans, reflected that everything was worth picking up which could be of any use, and he stooped down, but painfully, because he suffered from rheumatism. He took the bit of thin string from the ground and was carefully preparing to roll it up when he saw Maitre Malandain, the harness maker, on his doorstep staring at him. They had once had a quarrel about a halter, and they had borne each other malice ever since.

Ngài Hauchecorne, ở Breaute, vừa mới đến Goderville và đang đi về phía quảng trường thì ông nhận ra dưới đất một mẩu dây nhỏ. Ngài Hauchecorne, tiết kiệm như tất cả người Normandie chính hiệu, nghĩ rằng bất cứ thứ gì có thể hữu dụng đều đáng nhặt lên, và ông cúi xuống, nhưng đau đớn, vì ông bị chứng thấp khớp hành hạ. Ông nhặt mẩu dây mảnh từ dưới đất lên và đang cẩn thận chuẩn bị cuộn nó lại thì ông thấy ngài Malandain, người thợ đóng yên ngựa, đứng trước cửa nhà mình nhìn chằm chằm vào ông. Họ từng có một cuộc cãi vã về chuyện một sợi dây cương, và từ đó họ vẫn giữ mối thù với nhau.

Maitre Hauchecorne was overcome with a sort of shame at being seen by his enemy picking up a bit of string in the road. He quickly hid it beneath his blouse and then slipped it into his breeches, pocket, then pretended to be still looking for something on the ground which he did not discover and finally went off toward the market-place, his head bent forward and his body almost doubled in two by rheumatic pains.

Ngài Hauchecorne bỗng cảm thấy xấu hổ khi bị kẻ thù của mình nhìn thấy đang nhặt một mẩu dây trên đường. Ông vội giấu nó dưới chiếc áo choàng rồi nhét nó vào túi quần, rồi giả vờ như đang tìm kiếm gì đó dưới đất mà ông không tìm thấy và cuối cùng bước đi về phía quảng trường chợ, đầu cúi về phía trước và thân hình gần như gập đôi lại vì những cơn đau thấp khớp.

He was at once lost in the crowd, which kept moving about slowly and noisily as it chaffered and bargained. The peasants examined the cows, went off, came back, always in doubt for fear of being cheated, never quite daring to decide, looking the seller square in the eye in the effort to discover the tricks of the man and the defect in the beast.

Ông nhanh chóng bị lạc trong đám đông, vẫn cứ di chuyển chậm rãi và ồn ào khi họ mặc cả và trả giá. Những người nông dân xem xét đàn bò, bỏ đi, quay lại, luôn nghi ngờ vì sợ bị lừa, không bao giờ dám quyết định hẳn, nhìn thẳng vào mắt người bán trong nỗ lực phát hiện những mánh khóe của người đó và khiếm khuyết của con vật.

The women, having placed their great baskets at their feet, had taken out the poultry, which lay upon the ground, their legs tied together, with terrified eyes and scarlet combs.

Những người phụ nữ, sau khi đặt những chiếc giỏ lớn của họ dưới chân, đã lấy ra đám gia cầm, nằm trên đất, chân bị buộc lại với nhau, với đôi mắt hoảng sợ và mào đỏ tươi.

They listened to propositions, maintaining their prices in a decided manner with an impassive face or perhaps deciding to accept the smaller price offered, suddenly calling out to the customer who was starting to go away:

Họ lắng nghe những lời đề nghị, giữ vững giá của mình một cách dứt khoát với gương mặt lạnh lùng hoặc có lẽ quyết định chấp nhận mức giá thấp hơn được đưa ra, đột nhiên gọi to với người khách hàng đang bắt đầu bỏ đi:

“All right, I'll let you have them, Mait' Anthime.”

"Được rồi, tôi để cho ông đấy, ngài Anthime."

Then, little by little, the square became empty, and when the Angelus struck midday those who lived at a distance poured into the inns.

Rồi, dần dần, quảng trường trở nên vắng vẻ, và khi tiếng chuông kinh Truyền Tin vang lên báo giờ ngọ, những người sống xa liền đổ về các quán trọ.

At Jourdain's the great room was filled with eaters, just as the vast court was filled with vehicles of every sort—wagons, gigs, chars-a- bancs, tilburies, innumerable vehicles which have no name, yellow with mud, misshapen, pieced together, raising their shafts to heaven like two arms, or it may be with their nose on the ground and their rear in the air.

Tại quán Jourdain, gian phòng lớn chật kín người ăn, cũng như sân rộng chật kín đủ loại xe cộ — xe ngựa kéo, xe song mã, xe char-a-banc, xe tilbury, vô số loại xe không tên gọi, vàng ố vì bùn, méo mó, chắp vá, chĩa càng xe lên trời như hai cánh tay, hoặc có khi mũi xe chúc xuống đất còn đuôi thì hếch lên trời.

Just opposite to where the diners were at table the huge fireplace, with its bright flame, gave out a burning heat on the backs of those who sat at the right. Three spits were turning, loaded with chickens, with pigeons and with joints of mutton, and a delectable odor of roast meat and of gravy flowing over crisp brown skin arose from the hearth, kindled merriment, caused mouths to water.

Ngay đối diện chỗ các thực khách đang ngồi ăn là lò sưởi khổng lồ, với ngọn lửa rực sáng, tỏa hơi nóng bỏng rát lên lưng những người ngồi bên phải. Ba cái xiên quay đang xoay, chất đầy gà, chim bồ câu và những khúc thịt cừu, và một mùi thơm ngon lành của thịt nướng và nước thịt chảy trên lớp da giòn nâu bốc lên từ lò sưởi, khơi dậy niềm vui vẻ, khiến người ta thèm nhỏ dãi.

All the aristocracy of the plough were eating there at Mait' Jourdain's, the innkeeper's, a dealer in horses also and a sharp fellow who had made a great deal of money in his day.

Tất cả giới quý tộc của nghề cày cấy đều ăn ở đó tại quán ngài Jourdain, người chủ quán trọ, cũng là một tay buôn ngựa và là một gã tinh ranh đã kiếm được rất nhiều tiền trong thời của mình.

The dishes were passed round, were emptied, as were the jugs of yellow cider. Every one told of his affairs, of his purchases and his sales. They exchanged news about the crops. The weather was good for greens, but too wet for grain.

Các món ăn được truyền tay nhau, được ăn hết, cũng như những vò rượu táo màu vàng. Ai cũng kể về công việc của mình, về những món mua bán của mình. Họ trao đổi tin tức về mùa màng. Thời tiết tốt cho rau xanh, nhưng quá ẩm ướt cho lúa mì.

Suddenly the drum began to beat in the courtyard before the house. Every one, except some of the most indifferent, was on their feet at once and ran to the door, to the windows, their mouths full and napkins in their hand.

Đột nhiên tiếng trống bắt đầu vang lên trong sân trước ngôi nhà. Mọi người, trừ vài kẻ thờ ơ nhất, đều đứng bật dậy ngay lập tức và chạy ra cửa, ra cửa sổ, miệng vẫn còn đầy thức ăn và khăn ăn trên tay.

When the public crier had finished his tattoo he called forth in a jerky voice, pausing in the wrong places:

Khi người rao tin công cộng đã đánh xong hồi trống, ông ta cất giọng đứt quãng, ngắt nghỉ sai chỗ:

“Be it known to the inhabitants of Goderville and in general to all persons present at the market that there has been lost this morning on the Beuzeville road, between nine and ten o'clock, a black leather pocketbook containing five hundred francs and business papers. You are requested to return it to the mayor's office at once or to Maitre Fortune Houlbreque, of Manneville. There will be twenty francs reward.”

"Xin thông báo cho cư dân Goderville và nói chung cho tất cả những người có mặt tại chợ rằng sáng nay đã có người đánh mất trên đường Beuzeville, trong khoảng chín đến mười giờ, một chiếc ví da đen chứa năm trăm franc và giấy tờ kinh doanh. Kính mong quý vị mang trả về văn phòng thị trưởng ngay lập tức hoặc cho ngài Fortune Houlbreque, ở Manneville. Sẽ có phần thưởng hai mươi franc."

Then the man went away. They heard once more at a distance the dull beating of the drum and the faint voice of the crier. Then they all began to talk of this incident, reckoning up the chances which Maitre Houlbreque had of finding or of not finding his pocketbook again.

Rồi người đó bỏ đi. Họ lại nghe thấy từ xa tiếng trống trầm đục và giọng nói yếu ớt của người rao tin. Rồi tất cả họ bắt đầu bàn tán về sự việc này, tính toán xem cơ hội mà ngài Houlbreque có để tìm lại được chiếc ví của mình hay không.

The meal went on. They were finishing their coffee when the corporal of gendarmes appeared on the threshold.

Bữa ăn tiếp tục. Họ đang dùng xong cà phê thì viên đội hiến binh xuất hiện ở ngưỡng cửa.

He asked:

Ông ta hỏi:

“Is Maitre Hauchecorne, of Breaute, here?”

"Có ngài Hauchecorne, ở Breaute, ở đây không?"

Maitre Hauchecorne, seated at the other end of the table answered:

Ngài Hauchecorne, ngồi ở đầu bàn bên kia, đáp:

“Here I am, here I am.”

"Tôi đây, tôi đây."

And he followed the corporal.

Và ông đi theo viên đội.

The mayor was waiting for him, seated in an armchair. He was the notary of the place, a tall, grave man of pompous speech.

Ngài thị trưởng đang chờ ông, ngồi trên một chiếc ghế bành. Ông là công chứng viên của địa phương, một người đàn ông cao lớn, nghiêm nghị, nói năng kiểu cách.

“Maitre Hauchecorne,” said he, “this morning on the Beuzeville road, you were seen to pick up the pocketbook lost by Maitre Houlbreque, of Manneville.”

"Ngài Hauchecorne," ông ta nói, "sáng nay trên đường Beuzeville, người ta thấy ông nhặt chiếc ví bị ngài Houlbreque, ở Manneville, đánh mất."

The countryman looked at the mayor in amazement frightened already at this suspicion which rested on him, he knew not why.

Người nông dân nhìn ngài thị trưởng đầy kinh ngạc, đã sợ hãi trước sự nghi ngờ đổ lên mình mà ông không hiểu vì sao.

“I—I picked up that pocketbook?”

"Tôi—tôi nhặt cái ví đó ư?"

“Yes, YOU.”

"Đúng vậy, CHÍNH ÔNG."

“I swear I don't even know anything about it.”

"Tôi thề là tôi thậm chí chẳng biết gì về chuyện đó cả."

“You were seen.”

"Ông đã bị nhìn thấy."

“I was seen—I? Who saw me?”

"Tôi bị nhìn thấy — tôi ư? Ai đã thấy tôi?"

“M. Malandain, the harness-maker.”

"Ông Malandain, người thợ đóng yên ngựa."

Then the old man remembered, understood, and, reddening with anger, said:

Rồi ông lão nhớ lại, hiểu ra, và, đỏ mặt vì giận dữ, nói:

“Ah! he saw me, did he, the rascal? He saw me picking up this string here, M'sieu le Maire.”

"À! Hắn đã thấy tôi, phải không, cái tên khốn kiếp đó? Hắn đã thấy tôi nhặt sợi dây này đây, thưa ngài thị trưởng."

And fumbling at the bottom of his pocket, he pulled out of it the little end of string.

Và lục lọi dưới đáy túi quần, ông rút ra mẩu dây nhỏ.

But the mayor incredulously shook his head:

Nhưng ngài thị trưởng lắc đầu không tin:

“You will not make me believe, Maitre Hauchecorne, that M. Malandain, who is a man whose word can be relied on, has mistaken this string for a pocketbook.”

"Ông đừng bắt tôi tin rằng, ngài Hauchecorne, rằng ông Malandain, một người mà lời nói có thể tin cậy được, lại nhầm sợi dây này với một chiếc ví."

The peasant, furious, raised his hand and spat on the ground beside him as if to attest his good faith, repeating:

Người nông dân, tức giận, giơ tay lên và nhổ nước bọt xuống đất bên cạnh mình như để chứng tỏ thiện chí của mình, lặp lại:

“For all that, it is God's truth, M'sieu le Maire. There! On my soul's salvation, I repeat it.”

"Dù sao đi nữa, đó là sự thật của Chúa, thưa ngài thị trưởng. Đấy! Tôi xin thề trên sự cứu rỗi linh hồn mình, tôi nhắc lại."

The mayor continued:

Ngài thị trưởng tiếp tục:

“After you picked up the object in question, you even looked about for some time in the mud to see if a piece of money had not dropped out of it.”

"Sau khi ông nhặt vật đó lên, ông thậm chí còn nhìn quanh một lúc trong bùn để xem có đồng tiền nào rơi ra từ đó không."

The good man was choking with indignation and fear.

Người đàn ông tốt bụng nghẹn lời vì phẫn nộ và sợ hãi.

“How can they tell—how can they tell such lies as that to slander an honest man! How can they?”

"Sao họ có thể nói — sao họ có thể nói những lời dối trá như vậy để vu khống một người lương thiện! Sao họ có thể làm vậy?"

His protestations were in vain; he was not believed.

Những lời phản đối của ông đều vô ích; không ai tin ông cả.

He was confronted with M. Malandain, who repeated and sustained his testimony. They railed at one another for an hour. At his own request Maitre Hauchecorne was searched. Nothing was found on him.

Ông bị đối chất với ông Malandain, người này nhắc lại và giữ vững lời khai của mình. Họ mắng nhau suốt một tiếng đồng hồ. Theo yêu cầu của chính mình, ngài Hauchecorne bị lục soát. Không tìm thấy gì trên người ông cả.

At last the mayor, much perplexed, sent him away, warning him that he would inform the public prosecutor and ask for orders.

Cuối cùng ngài thị trưởng, hết sức bối rối, cho ông về, cảnh báo rằng ông ta sẽ báo cho công tố viên và xin chỉ thị.

The news had spread. When he left the mayor's office the old man was surrounded, interrogated with a curiosity which was serious or mocking, as the case might be, but into which no indignation entered. And he began to tell the story of the string. They did not believe him. They laughed.

Tin tức đã lan truyền. Khi ông rời văn phòng thị trưởng, ông lão bị vây quanh, bị chất vấn với sự tò mò nghiêm túc hoặc chế giễu, tùy trường hợp, nhưng không hề có chút phẫn nộ nào trong đó. Và ông bắt đầu kể lại câu chuyện về sợi dây. Họ không tin ông. Họ cười nhạo.

He passed on, buttonholed by every one, himself buttonholing his acquaintances, beginning over and over again his tale and his protestations, showing his pockets turned inside out to prove that he had nothing in them.

Ông bước tiếp, bị mọi người túm áo lại hỏi, chính ông cũng túm áo những người quen của mình, bắt đầu lại lần này đến lần khác câu chuyện và những lời phản đối của mình, lộn túi ra để chứng minh rằng ông chẳng có gì trong đó cả.

They said to him:

Họ nói với ông:

“You old rogue!”

"Đồ già lừa đảo!"

He grew more and more angry, feverish, in despair at not being believed, and kept on telling his story.

Ông càng ngày càng tức giận, nóng nảy, tuyệt vọng vì không được tin, và cứ tiếp tục kể câu chuyện của mình.

The night came. It was time to go home. He left with three of his neighbors, to whom he pointed out the place where he had picked up the string, and all the way he talked of his adventure.

Đêm buông xuống. Đã đến giờ về nhà. Ông rời đi cùng ba người hàng xóm, chỉ cho họ nơi ông đã nhặt được sợi dây, và suốt đường đi ông nói về chuyện xảy ra với mình.

That evening he made the round of the village of Breaute for the purpose of telling every one. He met only unbelievers.

Tối hôm đó ông đi khắp làng Breaute để kể cho mọi người nghe. Ông chỉ gặp toàn những người không tin.

He brooded over it all night long.

Ông trăn trở suốt cả đêm.

The next day, about one in the afternoon, Marius Paumelle, a farm hand of Maitre Breton, the market gardener at Ymauville, returned the pocketbook and its contents to Maitre Holbreque, of Manneville.

Ngày hôm sau, khoảng một giờ chiều, Marius Paumelle, một người làm công của ngài Breton, người trồng rau ở Ymauville, đã trả lại chiếc ví cùng những thứ bên trong cho ngài Holbreque, ở Manneville.

This man said, indeed, that he had found it on the road, but not knowing how to read, he had carried it home and given it to his master.

Người này quả thật nói rằng anh ta đã tìm thấy nó trên đường, nhưng vì không biết đọc, anh ta đã mang nó về nhà và đưa cho chủ mình.

The news spread to the environs. Maitre Hauchecorne was informed. He started off at once and began to relate his story with the denoument. He was triumphant.

Tin tức lan ra khắp vùng lân cận. Ngài Hauchecorne được báo tin. Ông lập tức lên đường và bắt đầu kể lại câu chuyện của mình cùng với cái kết. Ông đắc thắng.

“What grieved me,” said he, “was not the thing itself, do you understand, but it was being accused of lying. Nothing does you so much harm as being in disgrace for lying.”

"Điều làm tôi đau lòng," ông nói, "không phải là bản thân sự việc, các vị hiểu không, mà là việc bị buộc tội nói dối. Không gì gây hại cho người ta bằng việc bị mang tiếng xấu vì nói dối."

All day he talked of his adventure. He told it on the roads to the people who passed, at the cabaret to the people who drank and next Sunday when they came out of church. He even stopped strangers to tell them about it. He was easy now, and yet something worried him without his knowing exactly what it was. People had a joking manner while they listened. They did not seem convinced. He seemed to feel their remarks behind his back.

Cả ngày ông kể về chuyện đã xảy ra với mình. Ông kể trên đường cho những người qua lại, ở quán rượu cho những người đang uống và ngày Chủ nhật kế tiếp khi họ ra khỏi nhà thờ. Ông thậm chí còn chặn cả những người lạ để kể cho họ nghe. Giờ đây ông thấy nhẹ nhõm, nhưng vẫn có điều gì đó khiến ông lo lắng mà chính ông cũng không biết rõ là gì. Người ta có vẻ đùa cợt khi lắng nghe ông. Họ không có vẻ tin. Ông cảm thấy như họ đang bàn tán sau lưng mình.

On Tuesday of the following week he went to market at Goderville, prompted solely by the need of telling his story.

Vào thứ Ba tuần sau, ông đến chợ Goderville, chỉ vì thôi thúc muốn kể lại câu chuyện của mình.

Malandain, standing on his doorstep, began to laugh as he saw him pass. Why?

Malandain, đứng trước cửa nhà mình, bắt đầu cười khi thấy ông đi qua. Tại sao vậy?

He accosted a farmer of Criquetot, who did not let him finish, and giving him a punch in the pit of the stomach cried in his face: “Oh, you great rogue!” Then he turned his heel upon him.

Ông bắt chuyện với một nông dân ở Criquetot, người này không để ông nói hết câu, mà đấm vào bụng ông và hét vào mặt ông: "Ôi, đồ lừa đảo lớn!" Rồi quay gót bỏ đi.

Maitre Hauchecorne remained speechless and grew more and more uneasy. Why had they called him “great rogue”?

Ngài Hauchecorne đứng chết lặng và càng lúc càng thấy bất an. Tại sao họ lại gọi ông là "tên lừa đảo lớn"?

When seated at table in Jourdain's tavern he began again to explain the whole affair.

Khi ngồi vào bàn tại quán trọ Jourdain, ông lại bắt đầu giải thích toàn bộ sự việc.

A horse dealer of Montivilliers shouted at him:

Một tay buôn ngựa ở Montivilliers hét vào mặt ông:

“Get out, get out, you old scamp! I know all about your old string.”

"Cút đi, cút đi, đồ già bịp bợm! Tôi biết hết chuyện sợi dây cũ của ông rồi."

Hauchecorne stammered:

Hauchecorne lắp bắp:

“But since they found it again, the pocketbook!”

"Nhưng vì họ đã tìm lại được cái ví mà!"

But the other continued:

Nhưng người kia tiếp tục:

“Hold your tongue, daddy; there's one who finds it and there's another who returns it. And no one the wiser.”

"Im miệng đi, lão già; có kẻ tìm được nó và có kẻ khác trả lại nó. Và chẳng ai khôn ngoan hơn cả."

The farmer was speechless. He understood at last. They accused him of having had the pocketbook brought back by an accomplice, by a confederate.

Người nông dân chết lặng. Cuối cùng ông cũng hiểu ra. Họ buộc tội ông đã nhờ đồng bọn, một kẻ đồng lõa, mang chiếc ví trả lại.

He tried to protest. The whole table began to laugh.

Ông cố gắng phản đối. Cả bàn bắt đầu cười.

He could not finish his dinner, and went away amid a chorus of jeers.

Ông không thể ăn hết bữa tối, và bỏ đi giữa tràng chế giễu.

He went home indignant, choking with rage, with confusion, the more cast down since with his Norman craftiness he was, perhaps, capable of having done what they accused him of and even of boasting of it as a good trick. He was dimly conscious that it was impossible to prove his innocence, his craftiness being so well known. He felt himself struck to the heart by the injustice of the suspicion.

Ông trở về nhà đầy phẫn nộ, nghẹn ngào vì giận dữ, vì hoang mang, càng thêm suy sụp vì với sự ranh mãnh kiểu Normandie của mình, có lẽ ông đúng là có khả năng làm điều họ buộc tội và thậm chí còn khoe khoang đó như một trò khôn ngoan. Ông mơ hồ nhận ra rằng không thể chứng minh sự trong sạch của mình, vì sự ranh mãnh của ông đã quá nổi tiếng. Ông cảm thấy trái tim mình bị đâm thủng bởi sự bất công của lời nghi ngờ đó.

He began anew to tell his tale, lengthening his recital every day, each day adding new proofs, more energetic declarations and more sacred oaths, which he thought of, which he prepared in his hours of solitude, for his mind was entirely occupied with the story of the string. The more he denied it, the more artful his arguments, the less he was believed.

Ông lại bắt đầu kể lại câu chuyện của mình, kéo dài lời kể mỗi ngày, mỗi ngày thêm những bằng chứng mới, những lời tuyên bố mạnh mẽ hơn và những lời thề thiêng liêng hơn, mà ông nghĩ ra, mà ông chuẩn bị trong những giờ cô độc, vì tâm trí ông hoàn toàn bị chiếm giữ bởi câu chuyện về sợi dây. Ông càng chối bỏ, lập luận của ông càng tinh vi, thì người ta càng ít tin ông.

“Those are liars proofs,” they said behind his back.

"Đó là bằng chứng của kẻ nói dối," họ nói sau lưng ông.

He felt this. It preyed upon him and he exhausted himself in useless efforts.

Ông cảm nhận được điều đó. Nó giày vò ông và ông kiệt sức vì những nỗ lực vô ích.

He was visibly wasting away.

Ông gầy rộc đi trông thấy.

Jokers would make him tell the story of “the piece of string” to amuse them, just as you make a soldier who has been on a campaign tell his story of the battle. His mind kept growing weaker and about the end of December he took to his bed.

Những kẻ thích trêu chọc sẽ bắt ông kể câu chuyện về "mẩu dây" để mua vui cho họ, giống như người ta bắt một người lính từng ra trận kể lại câu chuyện về trận đánh. Tâm trí ông ngày càng suy yếu và đến khoảng cuối tháng Mười Hai thì ông phải nằm liệt giường.

He passed away early in January, and, in the ravings of death agony, he protested his innocence, repeating:

Ông qua đời vào đầu tháng Giêng, và, trong cơn mê sảng lúc hấp hối, ông vẫn khẳng định mình vô tội, lặp đi lặp lại:

“A little bit of string—a little bit of string. See, here it is, M'sieu le Maire.”

"Một mẩu dây nhỏ — một mẩu dây nhỏ. Đây này, nó đây, thưa ngài thị trưởng."

Open in the Storyteller app Get it on Google Play