Storyteller

My Watch: An Instructive Little Tale

A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.

Level
C1
Genres
humor
Reading time
7 min
Languages available
EN, VI, ES, ZH, PT, HI, ID
My Watch: An Instructive Little Tale cover

A perfectly reliable watch stops for one night — and every well-meaning repairman who tries to fix it only makes things comically worse, in this deadpan tale of escalating mechanical disaster.

My beautiful new watch had run eighteen months without losing or gaining, and without breaking any part of its machinery or stopping. I had come to believe it infallible in its judgments about the time of day, and to consider its constitution and its anatomy imperishable. But at last, one night, I let it run down. I grieved about it as if it were a recognized messenger and forerunner of calamity. But by and by I cheered up, set the watch by guess, and commanded my bodings and superstitions to depart.

Chiếc đồng hồ mới đẹp đẽ của tôi đã chạy được mười tám tháng mà không hề chậm hay nhanh, không hỏng hóc bộ phận máy móc nào cả, cũng chẳng bao giờ ngừng chạy. Tôi đã tin rằng nó tuyệt đối chính xác trong việc báo giờ, và tin rằng cấu tạo cùng bộ máy bên trong nó là bất diệt. Nhưng rồi cuối cùng, một đêm nọ, tôi để nó chạy hết cót. Tôi buồn bã như thể đó là điềm báo và người đưa tin của tai họa vậy. Nhưng rồi dần dần tôi lấy lại tinh thần, chỉnh lại giờ theo phỏng đoán, và ra lệnh cho những nỗi lo âu và mê tín của mình phải biến đi.

Next day I stepped into the chief jeweler's to set it by the exact time, and the head of the establishment took it out of my hand and proceeded to set it for me. Then he said, “She is four minutes slow—regulator wants pushing up.” I tried to stop him—tried to make him understand that the watch kept perfect time. But no; all this human cabbage could see was that the watch was four minutes slow, and the regulator must be pushed up a little; and so, while I danced around him in anguish, and implored him to let the watch alone, he calmly and cruelly did the shameful deed.

Ngày hôm sau tôi ghé vào tiệm kim hoàn lớn nhất để chỉnh đồng hồ theo giờ chính xác, và người chủ tiệm cầm lấy nó từ tay tôi rồi bắt đầu chỉnh giúp tôi. Rồi ông ta nói: "Nó chạy chậm bốn phút—cần chỉnh lại bộ điều tốc một chút." Tôi cố ngăn ông ta lại—cố giải thích cho ông hiểu rằng chiếc đồng hồ vẫn giữ giờ hoàn hảo. Nhưng vô ích; tất cả những gì cái đầu bắp cải này của con người có thể thấy chỉ là chiếc đồng hồ chậm bốn phút, và bộ điều tốc cần được đẩy lên một chút; thế là, trong khi tôi cuống quýt van xin ông ta để yên chiếc đồng hồ, ông ta vẫn bình thản và tàn nhẫn thực hiện cái hành động đáng xấu hổ ấy.

My watch began to gain. It gained faster and faster day by day. Within the week it sickened to a raging fever, and its pulse went up to a hundred and fifty in the shade. At the end of two months it had left all the timepieces of the town far in the rear, and was a fraction over thirteen days ahead of the almanac. It was away into November enjoying the snow, while the October leaves were still turning. It hurried up house rent, bills payable, and such things, in such a ruinous way that I could not abide it.

Chiếc đồng hồ của tôi bắt đầu chạy nhanh. Nó chạy nhanh dần lên từng ngày. Chưa đầy một tuần, nó đã như lên cơn sốt dữ dội, mạch đập của nó lên đến một trăm năm mươi nhịp trong bóng râm. Sau hai tháng, nó đã bỏ xa mọi chiếc đồng hồ khác trong thị trấn, vượt trước cả cuốn lịch hơn mười ba ngày. Nó đã đi tới tận tháng Mười Một để tận hưởng tuyết rơi, trong khi lá tháng Mười vẫn còn đang chuyển màu. Nó thúc giục tiền thuê nhà, các hóa đơn phải trả, và những thứ tương tự, theo cách tai hại đến mức tôi không thể chịu đựng nổi.

I took it to the watchmaker to be regulated. He asked me if I had ever had it repaired. I said no, it had never needed any repairing. He looked a look of vicious happiness and eagerly pried the watch open, and then put a small dice-box into his eye and peered into its machinery. He said it wanted cleaning and oiling, besides regulating—come in a week. After being cleaned and oiled, and regulated, my watch slowed down to that degree that it ticked like a tolling bell.

Tôi mang nó đến thợ đồng hồ để chỉnh lại. Ông ta hỏi tôi đã từng sửa nó chưa. Tôi nói chưa, nó chưa bao giờ cần sửa cả. Ông ta lộ vẻ mặt vui sướng đầy ác ý và háo hức mở phăng chiếc đồng hồ ra, rồi đặt một chiếc kính lúp nhỏ vào mắt và nhìn chăm chú vào bộ máy bên trong. Ông ta nói nó cần được làm sạch và tra dầu, ngoài việc chỉnh lại—một tuần nữa quay lại lấy. Sau khi được làm sạch, tra dầu, và chỉnh lại, chiếc đồng hồ của tôi chạy chậm đến mức tích tắc như tiếng chuông rung báo tang.

I began to be left by trains, I failed all appointments, I got to missing my dinner; my watch strung out three days' grace to four and let me go to protest; I gradually drifted back into yesterday, then day before, then into last week, and by and by the comprehension came upon me that all solitary and alone I was lingering along in week before last, and the world was out of sight. I seemed to detect in myself a sort of sneaking fellow-feeling for the mummy in the museum, and a desire to swap news with him. I went to a watchmaker again.

Tôi bắt đầu bị lỡ tàu, bỏ lỡ mọi cuộc hẹn, quên cả bữa tối; đồng hồ của tôi kéo dài ba ngày ân hạn thành bốn ngày rồi khiến tôi bị phản đối; tôi dần dần trôi ngược về hôm qua, rồi hôm kia, rồi tuần trước, và dần dà tôi nhận ra rằng mình đang một mình lẻ loi ở tận tuần trước nữa, còn cả thế giới thì đã đi mất hút. Tôi dường như cảm thấy trong mình một thứ đồng cảm lén lút với xác ướp trong viện bảo tàng, và muốn trao đổi tin tức với nó. Tôi lại đến gặp một người thợ đồng hồ khác.

He took the watch all to pieces while I waited, and then said the barrel was “swelled.” He said he could reduce it in three days. After this the watch averaged well, but nothing more. For half a day it would go like the very mischief, and keep up such a barking and wheezing and whooping and sneezing and snorting, that I could not hear myself think for the disturbance; and as long as it held out there was not a watch in the land that stood any chance against it. But the rest of the day it would keep on slowing down and fooling along until all the clocks it had left behind caught up again.

Ông ta tháo tung chiếc đồng hồ ra trong lúc tôi chờ đợi, rồi nói cái thùng cót bị "phồng" lên. Ông ta bảo có thể thu nhỏ lại trong ba ngày. Sau đó chiếc đồng hồ chạy đều được, nhưng chỉ vậy thôi, không hơn. Trong nửa ngày nó chạy như quỷ, cứ sủa, khò khè, rít lên, hắt hơi, và khịt mũi ầm ĩ đến mức tôi chẳng thể nghe rõ suy nghĩ của chính mình vì tiếng ồn ấy; và chừng nào nó còn giữ được tốc độ đó thì chẳng có chiếc đồng hồ nào trong nước địch nổi nó. Nhưng phần còn lại của ngày thì nó cứ chạy chậm dần và lề mề mãi cho đến khi tất cả những chiếc đồng hồ khác mà nó đã bỏ xa lại bắt kịp nó.

So at last, at the end of twenty-four hours, it would trot up to the judges' stand all right and just in time. It would show a fair and square average, and no man could say it had done more or less than its duty. But a correct average is only a mild virtue in a watch, and I took this instrument to another watchmaker. He said the king-bolt was broken. I said I was glad it was nothing more serious. To tell the plain truth, I had no idea what the king-bolt was, but I did not choose to appear ignorant to a stranger.

Vậy nên cuối cùng, sau đúng hai mươi bốn giờ, nó lại lê bước đến trước ban giám khảo đúng giờ, chẳng sớm chẳng muộn. Nó cho thấy mức trung bình khá công bằng, và không ai có thể nói nó đã làm hơn hay kém phận sự của mình. Nhưng một mức trung bình đúng đắn chỉ là một đức tính tầm thường ở một chiếc đồng hồ, và tôi mang nó đến một người thợ đồng hồ khác. Ông ta nói cái chốt chính bị gãy. Tôi nói tôi mừng vì nó không nghiêm trọng hơn. Nói thật, tôi chẳng hề biết cái chốt chính là cái gì, nhưng tôi không muốn tỏ ra dốt nát trước mặt người lạ.

He repaired the king-bolt, but what the watch gained in one way it lost in another. It would run awhile and then stop awhile, and then run awhile again, and so on, using its own discretion about the intervals. And every time it went off it kicked back like a musket. I padded my breast for a few days, but finally took the watch to another watchmaker. He picked it all to pieces, and turned the ruin over and over under his glass; and then he said there appeared to be something the matter with the hair-trigger. He fixed it, and gave it a fresh start.

Ông ta sửa cái chốt chính, nhưng cái mà chiếc đồng hồ được lợi ở chỗ này thì lại mất đi ở chỗ khác. Nó chạy một lúc rồi dừng một lúc, rồi lại chạy tiếp, cứ thế, tự ý quyết định khoảng thời gian nghỉ theo ý mình. Và mỗi lần nó chạy lại, nó giật ngược lại như một khẩu súng hỏa mai. Tôi cố nhịn thêm vài ngày, nhưng cuối cùng lại mang chiếc đồng hồ đến một thợ khác. Ông ta tháo tung nó ra, xoay đi xoay lại đống đổ nát ấy dưới kính lúp; rồi ông ta nói có vẻ như có vấn đề ở cái lẫy cò. Ông ta sửa nó, và cho nó khởi động lại.

It did well now, except that always at ten minutes to ten the hands would shut together like a pair of scissors, and from that time forth they would travel together. The oldest man in the world could not make head or tail of the time of day by such a watch, and so I went again to have the thing repaired. This person said that the crystal had got bent, and that the mainspring was not straight. He also remarked that part of the works needed half-soling.

Giờ thì nó chạy tốt, chỉ trừ việc lúc nào cũng đúng mười giờ kém mười phút thì hai cây kim lại chụm vào nhau như một cây kéo, và từ đó trở đi chúng cứ dính chặt vào nhau mà chạy cùng nhau. Người già nhất thế giới cũng chẳng thể đoán ra giờ giấc gì từ một chiếc đồng hồ như vậy, thế là tôi lại phải mang nó đi sửa lần nữa. Người này nói mặt kính bị cong, và dây cót chính không thẳng. Ông ta còn nói thêm rằng một phần bộ máy cần được thay đế mới.

He made these things all right, and then my timepiece performed unexceptionably, save that now and then, after working along quietly for nearly eight hours, everything inside would let go all of a sudden and begin to buzz like a bee, and the hands would straightway begin to spin round and round so fast that their individuality was lost completely, and they simply seemed a delicate spider's web over the face of the watch. She would reel off the next twenty-four hours in six or seven minutes, and then stop with a bang. I went with a heavy heart to one more watchmaker, and looked on while he took her to pieces.

Ông ta sửa hết những chỗ đó, và rồi chiếc đồng hồ của tôi chạy hoàn hảo, ngoại trừ việc thỉnh thoảng, sau khi chạy êm ả gần tám tiếng đồng hồ, mọi thứ bên trong bỗng nhiên buông lỏng hết và bắt đầu vo ve như con ong, rồi hai cây kim liền quay tít mù đến mức mất hẳn hình dạng riêng của chúng, chỉ còn trông như một mạng nhện mảnh mai phủ trên mặt đồng hồ. Nó sẽ quay hết hai mươi bốn giờ tiếp theo chỉ trong sáu hay bảy phút, rồi dừng sựng lại với một tiếng "rầm". Tôi mang lòng nặng trĩu đến gặp thêm một thợ đồng hồ nữa, và đứng nhìn ông ta tháo nó ra.

Then I prepared to cross-question him rigidly, for this thing was getting serious. The watch had cost two hundred dollars originally, and I seemed to have paid out two or three thousand for repairs. While I waited and looked on I presently recognized in this watchmaker an old acquaintance—a steamboat engineer of other days, and not a good engineer, either. He examined all the parts carefully, just as the other watchmakers had done, and then delivered his verdict with the same confidence of manner.

Rồi tôi chuẩn bị tra hỏi ông ta cho ra lẽ, vì chuyện này bắt đầu trở nên nghiêm trọng. Chiếc đồng hồ vốn giá hai trăm đô-la, mà tôi dường như đã trả thêm hai, ba nghìn đô-la tiền sửa chữa. Trong lúc tôi chờ đợi và quan sát, tôi bỗng nhận ra người thợ đồng hồ này là một người quen cũ—một kỹ sư tàu hơi nước hồi trước, mà cũng chẳng phải là một kỹ sư giỏi giang gì. Ông ta xem xét kỹ từng bộ phận, y như những người thợ trước đã làm, rồi đưa ra phán quyết với vẻ tự tin y hệt.

He said:

Ông ta nói:

“She makes too much steam—you want to hang the monkey-wrench on the safety-valve!”

"Nó sinh ra quá nhiều hơi nước—ông cần treo cái cờ-lê lên van an toàn ấy!"

I brained him on the spot, and had him buried at my own expense.

Tôi đập ông ta ngã lăn ra ngay tại chỗ, rồi bỏ tiền túi ra chôn cất ông ta.

My uncle William (now deceased, alas!) used to say that a good horse was, a good horse until it had run away once, and that a good watch was a good watch until the repairers got a chance at it. And he used to wonder what became of all the unsuccessful tinkers, and gunsmiths, and shoemakers, and engineers, and blacksmiths; but nobody could ever tell him.

Chú William của tôi (nay đã qua đời, than ôi!) từng nói rằng một con ngựa tốt vẫn là ngựa tốt cho đến khi nó bỏ chạy một lần, và một chiếc đồng hồ tốt vẫn là đồng hồ tốt cho đến khi những người thợ sửa có cơ hội đụng vào nó. Và ông thường thắc mắc không biết những người thợ sửa chữa, thợ súng, thợ giày, kỹ sư, và thợ rèn thất bại kia rốt cuộc đã đi đâu về đâu; nhưng chẳng ai có thể trả lời cho ông biết cả.

Open in the Storyteller app Get it on Google Play