Two Thanksgiving Day Gentlemen
A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
Every Thanksgiving for nine years, a kind old gentleman treats a ragged park-bench regular to a grand dinner, both quietly determined to keep their tradition alive—no matter what it costs them this year.
There is one day that is ours. There is one day when all we Americans who are not self-made go back to the old home to eat saleratus biscuits and marvel how much nearer to the porch the old pump looks than it used to. Bless the day. President Roosevelt gives it to us. We hear some talk of the Puritans, but don’t just remember who they were. Bet we can lick ’em, anyhow, if they try to land again. Plymouth Rocks? Well, that sounds more familiar. Lots of us have had to come down to hens since the Turkey Trust got its work in. But somebody in Washington is leaking out advance information to ’em about these Thanksgiving proclamations.
Có một ngày là của riêng chúng ta. Có một ngày mà tất cả những người Mỹ chúng ta, những kẻ không phải tự thân lập nghiệp, trở về ngôi nhà xưa để ăn bánh quy nở bằng bột nở và trầm trồ xem cái bơm nước cũ sao lại gần hiên nhà hơn so với trước kia. Cầu chúc cho ngày ấy. Tổng thống Roosevelt ban ngày ấy cho chúng ta. Chúng ta có nghe nói đôi chút về những người Thanh giáo, nhưng chẳng nhớ rõ họ là ai. Cá là chúng ta vẫn có thể đánh bại họ thôi, nếu họ định đổ bộ lần nữa. Plymouth Rocks ư? À, cái đó nghe quen hơn. Nhiều người trong chúng ta đã phải xuống nước nuôi gà mái kể từ khi cái Tập đoàn Gà Tây bắt đầu ra tay. Nhưng có ai đó ở Washington đang bí mật tiết lộ tin tức trước cho họ về những bản tuyên bố Lễ Tạ ơn này.
The big city east of the cranberry bogs has made Thanksgiving Day an institution. The last Thursday in November is the only day in the year on which it recognizes the part of America lying across the ferries. It is the one day that is purely American. Yes, a day of celebration, exclusively American.
Thành phố lớn nằm phía đông những vùng đầm lầy nam việt quất đã biến Lễ Tạ ơn thành một định chế. Thứ Năm cuối cùng của tháng Mười một là ngày duy nhất trong năm mà nó công nhận phần nước Mỹ nằm bên kia những chuyến phà. Đó là ngày duy nhất mang tính chất thuần túy Mỹ. Vâng, một ngày lễ hội, hoàn toàn kiểu Mỹ.
And now for the story which is to prove to you that we have traditions on this side of the ocean that are becoming older at a much rapider rate than those of England are—thanks to our git-up and enterprise.
Và giờ đây là câu chuyện sẽ chứng minh cho bạn thấy rằng chúng ta cũng có những truyền thống ở bên này đại dương, những truyền thống đang trở nên lâu đời với tốc độ nhanh hơn nhiều so với những truyền thống của nước Anh—nhờ vào tinh thần xông xáo và tháo vát của chúng ta.
Stuffy Pete took his seat on the third bench to the right as you enter Union Square from the east, at the walk opposite the fountain. Every Thanksgiving Day for nine years he had taken his seat there promptly at 1 o’clock. For every time he had done so things had happened to him—Charles Dickensy things that swelled his waistcoat above his heart, and equally on the other side.
Stuffy Pete ngồi xuống chiếc ghế dài thứ ba bên phải khi bạn bước vào Quảng trường Union từ phía đông, trên lối đi đối diện với đài phun nước. Mỗi dịp Lễ Tạ ơn suốt chín năm liền, ông đã ngồi xuống đó đúng vào lúc 1 giờ chiều. Vì mỗi lần ông làm như vậy, chuyện gì đó lại xảy đến với ông—những chuyện kiểu Charles Dickens khiến chiếc áo gi lê của ông phồng lên phía trên trái tim, và cả phía bên kia cũng vậy.
But to-day Stuffy Pete’s appearance at the annual trysting place seemed to have been rather the result of habit than of the yearly hunger which, as the philanthropists seem to think, afflicts the poor at such extended intervals.
Nhưng hôm nay, sự xuất hiện của Stuffy Pete tại nơi hẹn thường niên ấy dường như là kết quả của thói quen hơn là cơn đói hằng năm mà, theo suy nghĩ của các nhà từ thiện, hành hạ người nghèo cách quãng dài như vậy.
Certainly Pete was not hungry. He had just come from a feast that had left him of his powers barely those of respiration and locomotion. His eyes were like two pale gooseberries firmly imbedded in a swollen and gravy-smeared mask of putty. His breath came in short wheezes; a senatorial roll of adipose tissue denied a fashionable set to his upturned coat collar. Buttons that had been sewed upon his clothes by kind Salvation fingers a week before flew like popcorn, strewing the earth around him.
Chắc chắn Pete không hề đói. Ông vừa mới rời khỏi một bữa tiệc khiến ông chỉ còn vừa đủ sức để thở và di chuyển. Đôi mắt ông như hai quả lý gai xanh nhạt cắm chặt vào một gương mặt sưng phồng bết đầy nước thịt như bột trét. Hơi thở ông đứt quãng từng cơn khò khè; một lớp mỡ cuộn tròn kiểu thượng nghị sĩ khiến cổ áo khoác dựng ngược của ông không thể giữ được vẻ thời trang. Những chiếc khuy áo được những ngón tay tốt bụng của Đội Cứu Thế khâu lên quần áo ông một tuần trước đó bung ra tứ tung như bắp rang, rải khắp mặt đất quanh ông.
Ragged he was, with a split shirt front open to the wishbone; but the November breeze, carrying fine snowflakes, brought him only a grateful coolness. For Stuffy Pete was overcharged with the caloric produced by a super-bountiful dinner, beginning with oysters and ending with plum pudding, and including (it seemed to him) all the roast turkey and baked potatoes and chicken salad and squash pie and ice cream in the world. Wherefore he sat, gorged, and gazed upon the world with after-dinner contempt.
Ông ăn mặc rách rưới, với vạt áo sơ mi rách toác lộ ra tận xương ức; nhưng làn gió tháng Mười một, mang theo những bông tuyết mịn, chỉ đem đến cho ông chút mát mẻ dễ chịu. Vì Stuffy Pete đang thừa quá nhiều nhiệt lượng sinh ra từ một bữa tối cực kỳ thịnh soạn, bắt đầu bằng hàu và kết thúc bằng bánh pudding mận, và bao gồm (theo cảm giác của ông) toàn bộ gà tây quay, khoai tây nướng, xà lách gà, bánh bí ngô và kem trên đời này. Vì vậy ông ngồi đó, no căng, và nhìn thế giới với vẻ khinh khỉnh của kẻ vừa ăn xong.
The meal had been an unexpected one. He was passing a red brick mansion near the beginning of Fifth avenue, in which lived two old ladies of ancient family and a reverence for traditions. They even denied the existence of New York, and believed that Thanksgiving Day was declared solely for Washington Square. One of their traditional habits was to station a servant at the postern gate with orders to admit the first hungry wayfarer that came along after the hour of noon had struck, and banquet him to a finish. Stuffy Pete happened to pass by on his way to the park, and the seneschals gathered him in and upheld the custom of the castle.
Bữa ăn ấy là một điều bất ngờ. Ông đang đi ngang qua một ngôi biệt thự gạch đỏ gần đầu Đại lộ số Năm, nơi sống hai bà lão thuộc dòng dõi xưa cũ và có lòng tôn kính với truyền thống. Họ thậm chí còn phủ nhận sự tồn tại của New York, và tin rằng Lễ Tạ ơn được ban bố chỉ riêng cho Quảng trường Washington. Một trong những thói quen truyền thống của họ là cắt một người hầu đứng gác ở cổng sau với lệnh cho vào bất kỳ người lữ khách đói bụng đầu tiên nào đi qua sau khi đồng hồ điểm giờ ngọ, và chiêu đãi người đó no nê cho đến hết bữa. Stuffy Pete tình cờ đi ngang qua đó trên đường đến công viên, và những người quản gia đã đón ông vào và duy trì phong tục của lâu đài.
After Stuffy Pete had gazed straight before him for ten minutes he was conscious of a desire for a more varied field of vision. With a tremendous effort he moved his head slowly to the left. And then his eyes bulged out fearfully, and his breath ceased, and the rough-shod ends of his short legs wriggled and rustled on the gravel.
Sau khi Stuffy Pete đã nhìn thẳng về phía trước suốt mười phút, ông cảm thấy muốn có một tầm nhìn đa dạng hơn. Với một nỗ lực to lớn, ông từ từ quay đầu sang trái. Và rồi đôi mắt ông trợn tròn đầy kinh hãi, hơi thở ông ngừng lại, và hai đầu đôi chân ngắn đi giày cũ của ông ngọ nguậy sột soạt trên nền sỏi.
For the Old Gentleman was coming across Fourth avenue toward his bench.
Vì Vị Quý ông Già đang băng qua Đại lộ số Bốn tiến về phía ghế của ông.
Every Thanksgiving Day for nine years the Old Gentleman had come there and found Stuffy Pete on his bench. That was a thing that the Old Gentleman was trying to make a tradition of. Every Thanksgiving Day for nine years he had found Stuffy there, and had led him to a restaurant and watched him eat a big dinner. They do those things in England unconsciously. But this is a young country, and nine years is not so bad.
Mỗi dịp Lễ Tạ ơn suốt chín năm liền, Vị Quý ông Già đã đến đó và thấy Stuffy Pete trên chiếc ghế của mình. Đó là điều mà Vị Quý ông Già đang cố biến thành một truyền thống. Mỗi dịp Lễ Tạ ơn suốt chín năm liền, ông đã thấy Stuffy ở đó, và dẫn ông ta đến một nhà hàng, ngồi xem ông ta ăn một bữa tối thịnh soạn. Ở Anh người ta làm những việc như vậy một cách vô thức. Nhưng đây là một đất nước còn trẻ, và chín năm không phải là quá tệ.
The Old Gentleman was a staunch American patriot, and considered himself a pioneer in American tradition. In order to become picturesque we must keep on doing one thing for a long time without ever letting it get away from us. Something like collecting the weekly dimes in industrial insurance. Or cleaning the streets.
Vị Quý ông Già là một người Mỹ yêu nước kiên định, và tự coi mình là một người tiên phong trong việc tạo dựng truyền thống Mỹ. Để trở nên đặc sắc, chúng ta phải tiếp tục làm một việc gì đó thật lâu dài mà không bao giờ để nó tuột mất khỏi tay mình. Kiểu như thu góp những đồng mười xu hàng tuần trong bảo hiểm công nghiệp vậy. Hay như quét dọn đường phố vậy.
The Old Gentleman moved, straight and stately, toward the Institution that he was rearing. Truly, the annual feeding of Stuffy Pete was nothing national in its character, such as the Magna Charta or jam for breakfast was in England. But it was a step. It was almost feudal. It showed, at least, that a Custom was not impossible to New Y—ahem!—America.
Vị Quý ông Già bước đi, thẳng thắn và đường bệ, hướng về Định chế mà ông đang xây dựng. Thật vậy, việc cho Stuffy Pete ăn hàng năm chẳng có tính chất mang tầm quốc gia gì cả, như kiểu Đại Hiến chương hay mứt ăn sáng ở nước Anh. Nhưng đó là một bước tiến. Nó gần như mang tính phong kiến. Ít nhất nó cũng cho thấy rằng một Phong tục không phải là điều bất khả thi ở New Y—à hèm!—ở nước Mỹ.
The Old Gentleman was thin and tall and sixty. He was dressed all in black, and wore the old-fashioned kind of glasses that won’t stay on your nose. His hair was whiter and thinner than it had been last year, and he seemed to make more use of his big, knobby cane with the crooked handle.
Vị Quý ông Già gầy, cao, và sáu mươi tuổi. Ông mặc toàn màu đen, đeo loại kính kiểu xưa cứ tuột khỏi sống mũi. Mái tóc ông bạc hơn và mỏng hơn năm ngoái, và ông dường như phải dùng đến chiếc gậy to có tay cầm cong nhiều hơn.
As his established benefactor came up Stuffy wheezed and shuddered like some woman’s over-fat pug when a street dog bristles up at him. He would have flown, but all the skill of Santos-Dumont could not have separated him from his bench. Well had the myrmidons of the two old ladies done their work.
Khi vị ân nhân cố định của mình bước đến, Stuffy thở khò khè và run rẩy như một con chó bông béo mập của một quý bà nào đó khi có con chó đường phố xù lông lên với nó. Ông hẳn đã bỏ chạy, nhưng dù có toàn bộ tài nghệ của Santos-Dumont cũng không thể tách ông ra khỏi chiếc ghế ấy. Đám gia nhân của hai bà lão kia đã làm việc quá tốt rồi.
“Good morning,” said the Old Gentleman. “I am glad to perceive that the vicissitudes of another year have spared you to move in health about the beautiful world. For that blessing alone this day of thanksgiving is well proclaimed to each of us. If you will come with me, my man, I will provide you with a dinner that should make your physical being accord with the mental.”
“Chào buổi sáng,” Vị Quý ông Già nói. “Ta vui mừng nhận thấy rằng những thăng trầm của một năm nữa đã tha cho anh được đi lại khỏe mạnh trên thế gian tươi đẹp này. Chỉ vì phúc lành ấy thôi, ngày lễ tạ ơn này cũng đã xứng đáng được tuyên bố cho mỗi người chúng ta rồi. Nếu anh đi cùng ta, chàng trai của ta, ta sẽ mời anh một bữa ăn xứng đáng để thể chất của anh hòa hợp với tinh thần.”
That is what the old Gentleman said every time. Every Thanksgiving Day for nine years. The words themselves almost formed an Institution. Nothing could be compared with them except the Declaration of Independence. Always before they had been music in Stuffy’s ears. But now he looked up at the Old Gentleman’s face with tearful agony in his own. The fine snow almost sizzled when it fell upon his perspiring brow. But the Old Gentleman shivered a little and turned his back to the wind.
Đó là những gì Vị Quý ông Già nói mỗi lần. Mỗi dịp Lễ Tạ ơn suốt chín năm liền. Bản thân những lời nói ấy gần như đã tạo thành một Định chế rồi. Chẳng có gì có thể so sánh với chúng ngoại trừ Bản Tuyên ngôn Độc lập. Trước đây những lời ấy luôn như âm nhạc trong tai Stuffy. Nhưng giờ ông ngước nhìn khuôn mặt Vị Quý ông Già với nỗi đau đớn đẫm lệ trong mắt mình. Lớp tuyết mịn gần như xèo xèo khi rơi xuống vầng trán đẫm mồ hôi của ông. Nhưng Vị Quý ông Già hơi rùng mình và quay lưng về phía gió.
Stuffy had always wondered why the Old Gentleman spoke his speech rather sadly. He did not know that it was because he was wishing every time that he had a son to succeed him. A son who would come there after he was gone—a son who would stand proud and strong before some subsequent Stuffy, and say: “In memory of my father.” Then it would be an Institution.
Stuffy vẫn luôn thắc mắc tại sao Vị Quý ông Già lại nói bài diễn văn của mình với vẻ có phần buồn bã. Ông không biết rằng đó là vì mỗi lần như vậy, Vị Quý ông Già lại ước mình có một người con trai để nối nghiệp mình. Một người con trai sẽ đến đó sau khi ông qua đời—một người con trai sẽ đứng đó, tự hào và mạnh mẽ, trước một Stuffy nào đó về sau, và nói: “Để tưởng nhớ cha tôi.” Khi ấy nó mới trở thành một Định chế thực sự.
But the Old Gentleman had no relatives. He lived in rented rooms in one of the decayed old family brownstone mansions in one of the quiet streets east of the park. In the winter he raised fuchsias in a little conservatory the size of a steamer trunk. In the spring he walked in the Easter parade. In the summer he lived at a farmhouse in the New Jersey hills, and sat in a wicker armchair, speaking of a butterfly, the ornithoptera amphrisius, that he hoped to find some day. In the autumn he fed Stuffy a dinner. These were the Old Gentleman’s occupations.
Nhưng Vị Quý ông Già chẳng có người thân nào cả. Ông sống trong những căn phòng thuê tại một trong những dinh thự cổ kính bằng đá nâu đã xuống cấp trên một trong những con phố yên tĩnh phía đông công viên. Vào mùa đông ông trồng hoa fuchsia trong một nhà kính nhỏ chỉ to bằng một chiếc rương du lịch. Vào mùa xuân ông đi dạo trong đoàn diễu hành Lễ Phục sinh. Vào mùa hè ông sống ở một trang trại trên vùng đồi New Jersey, ngồi trên chiếc ghế bành mây, nói về một loài bướm, loài ornithoptera amphrisius, mà ông hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm thấy. Vào mùa thu ông cho Stuffy ăn một bữa tối. Đó chính là những công việc thường ngày của Vị Quý ông Già.
Stuffy Pete looked up at him for a half minute, stewing and helpless in his own self-pity. The Old Gentleman’s eyes were bright with the giving-pleasure. His face was getting more lined each year, but his little black necktie was in as jaunty a bow as ever, and the linen was beautiful and white, and his gray mustache was curled carefully at the ends. And then Stuffy made a noise that sounded like peas bubbling in a pot. Speech was intended; and as the Old Gentleman had heard the sounds nine times before, he rightly construed them into Stuffy’s old formula of acceptance.
Stuffy Pete nhìn ông chừng nửa phút, chìm đắm bất lực trong nỗi tự thương hại của chính mình. Đôi mắt của Vị Quý ông Già sáng lên niềm vui sướng khi được cho đi. Khuôn mặt ông mỗi năm lại thêm nhiều nếp nhăn, nhưng chiếc cà vạt đen nhỏ của ông vẫn được thắt thành một chiếc nơ bảnh bao như mọi khi, và tấm vải lanh trắng tinh đẹp đẽ, còn bộ ria mép xám của ông được xoăn cẩn thận ở hai đầu. Rồi Stuffy phát ra một âm thanh nghe như đậu đang sôi trong nồi. Đó là ý định muốn nói; và vì Vị Quý ông Già đã nghe những âm thanh ấy chín lần trước đây, ông hiểu đúng rằng đó là câu nói chấp thuận quen thuộc của Stuffy.
“Thankee, sir. I’ll go with ye, and much obliged. I’m very hungry, sir.”
“Cảm ơn ngài, thưa ngài. Tôi sẽ đi cùng ngài, và rất biết ơn. Tôi đói lắm rồi, thưa ngài.”
The coma of repletion had not prevented from entering Stuffy’s mind the conviction that he was the basis of an Institution. His Thanksgiving appetite was not his own; it belonged by all the sacred rights of established custom, if not, by the actual Statute of Limitations, to this kind old gentleman who had preempted it. True, America is free; but in order to establish tradition some one must be a repetend—a repeating decimal. The heroes are not all heroes of steel and gold. See one here that wielded only weapons of iron, badly silvered, and tin.
Cơn hôn mê vì no nê vẫn chưa ngăn được ý nghĩ trong đầu Stuffy rằng ông chính là nền tảng của một Định chế. Cơn đói Lễ Tạ ơn của ông không còn là của riêng ông nữa; nó thuộc về, theo mọi quyền thiêng liêng của tập tục đã được thiết lập, nếu không muốn nói là theo Luật Thời hiệu thực sự, vị quý ông già tốt bụng này, người đã chiếm giữ nó từ trước. Đúng vậy, nước Mỹ được tự do; nhưng để thiết lập nên một truyền thống thì phải có ai đó là số lặp—một số thập phân tuần hoàn. Không phải anh hùng nào cũng là anh hùng bằng thép và vàng cả. Hãy nhìn người anh hùng này, kẻ chỉ cầm những vũ khí bằng sắt, mạ bạc kém, và thiếc.
The Old Gentleman led his annual protégé southward to the restaurant, and to the table where the feast had always occurred. They were recognized.
Vị Quý ông Già dẫn người được ông bảo trợ hằng năm về hướng nam đến nhà hàng, đến chiếc bàn nơi bữa tiệc vẫn luôn diễn ra. Họ được nhận ra ngay.
“Here comes de old guy,” said a waiter, “dat blows dat same bum to a meal every Thanksgiving.”
“Lão già này lại đến rồi,” một người phục vụ nói, “lão vẫn hào phóng thết đãi thằng ăn mày này một bữa mỗi dịp Lễ Tạ ơn.”
The Old Gentleman sat across the table glowing like a smoked pearl at his corner-stone of future ancient Tradition. The waiters heaped the table with holiday food—and Stuffy, with a sigh that was mistaken for hunger’s expression, raised knife and fork and carved for himself a crown of imperishable bay.
Vị Quý ông Già ngồi bên kia bàn, rạng rỡ như viên ngọc trai ám khói, tại viên đá móng của Truyền thống Cổ xưa trong tương lai của mình. Những người phục vụ chất đầy bàn với đồ ăn ngày lễ—và Stuffy, với tiếng thở dài bị nhầm là biểu hiện của cơn đói, nâng dao và nĩa lên và tự khắc cho mình một vòng nguyệt quế bất diệt.
No more valiant hero ever fought his way through the ranks of an enemy. Turkey, chops, soups, vegetables, pies, disappeared before him as fast as they could be served. Gorged nearly to the uttermost when he entered the restaurant, the smell of food had almost caused him to lose his honor as a gentleman, but he rallied like a true knight. He saw the look of beneficent happiness on the Old Gentleman’s face—a happier look than even the fuchsias and the ornithoptera amphrisius had ever brought to it—and he had not the heart to see it wane.
Chưa có anh hùng dũng cảm nào từng chiến đấu xuyên qua hàng ngũ kẻ thù hơn thế. Gà tây, sườn, súp, rau củ, bánh nướng, biến mất trước mặt ông nhanh như chúng có thể được dọn lên. Đã no căng gần đến mức tối đa khi bước vào nhà hàng, mùi thức ăn suýt khiến ông đánh mất danh dự của một quý ông, nhưng ông đã lấy lại tinh thần như một hiệp sĩ chân chính. Ông thấy nét mặt hạnh phúc nhân từ trên gương mặt Vị Quý ông Già—một vẻ hạnh phúc còn hơn cả những gì hoa fuchsia và loài ornithoptera amphrisius từng mang lại cho ông—và ông không nỡ để nó tàn phai.
In an hour Stuffy leaned back with a battle won. “Thankee kindly, sir,” he puffed like a leaky steam pipe; “thankee kindly for a hearty meal.” Then he arose heavily with glazed eyes and started toward the kitchen. A waiter turned him about like a top, and pointed him toward the door. The Old Gentleman carefully counted out $1.30 in silver change, leaving three nickels for the waiter.
Trong vòng một giờ Stuffy ngả người ra sau với một trận chiến đã thắng. “Cảm ơn ngài rất nhiều, thưa ngài,” ông phì phò như một ống hơi bị rò rỉ; “cảm ơn ngài rất nhiều vì một bữa ăn no nê.” Rồi ông nặng nề đứng dậy với đôi mắt lờ đờ và bước về phía nhà bếp. Một người phục vụ xoay ông lại như một con quay, chỉ ông về phía cửa ra. Vị Quý ông Già cẩn thận đếm ra 1,30 đô la tiền lẻ bạc, để lại ba đồng năm xu cho người phục vụ.
They parted as they did each year at the door, the Old Gentleman going south, Stuffy north.
Họ chia tay như mọi năm ở trước cửa, Vị Quý ông Già đi về hướng nam, Stuffy đi về hướng bắc.
Around the first corner Stuffy turned, and stood for one minute. Then he seemed to puff out his rags as an owl puffs out his feathers, and fell to the sidewalk like a sunstricken horse.
Quanh góc phố đầu tiên, Stuffy rẽ vào, đứng lại một phút. Rồi ông dường như phồng đám giẻ rách của mình lên như một con cú xù lông, và ngã sụp xuống vỉa hè như một con ngựa bị trúng nắng.
When the ambulance came the young surgeon and the driver cursed softly at his weight. There was no smell of whiskey to justify a transfer to the patrol wagon, so Stuffy and his two dinners went to the hospital. There they stretched him on a bed and began to test him for strange diseases, with the hope of getting a chance at some problem with the bare steel.
Khi xe cứu thương đến, viên bác sĩ trẻ và người tài xế khẽ chửi thề vì sức nặng của ông. Không có mùi rượu whisky nào để biện minh cho việc chuyển ông sang xe cảnh sát, nên Stuffy cùng hai bữa tối của mình được đưa đến bệnh viện. Ở đó họ đặt ông nằm trên giường và bắt đầu kiểm tra ông xem có bệnh lạ gì không, với hy vọng có cơ hội thử tay nghề với con dao mổ.
And lo! an hour later another ambulance brought the Old Gentleman. And they laid him on another bed and spoke of appendicitis, for he looked good for the bill.
Và kìa! một giờ sau, một chiếc xe cứu thương khác lại chở Vị Quý ông Già đến. Và họ đặt ông nằm trên một chiếc giường khác, bàn tán về bệnh viêm ruột thừa, vì ông trông có vẻ đủ khả năng chi trả hóa đơn.
But pretty soon one of the young doctors met one of the young nurses whose eyes he liked, and stopped to chat with her about the cases.
Nhưng chẳng bao lâu sau, một trong những bác sĩ trẻ gặp một trong những cô y tá trẻ có đôi mắt anh ta thích, và dừng lại trò chuyện với cô về những ca bệnh.
“That nice old gentleman over there, now,” he said, “you wouldn’t think that was a case of almost starvation. Proud old family, I guess. He told me he hadn’t eaten a thing for three days.”
“Vị quý ông già tốt bụng đằng kia đấy,” anh ta nói, “cô sẽ không nghĩ đó là một ca gần như chết đói đâu. Chắc là dòng dõi quý tộc kiêu hãnh gì đó. Ông ấy bảo tôi rằng ông ấy đã không ăn gì suốt ba ngày rồi.”