King Alfred and the Cakes
A free B1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
Defeated and in hiding, King Alfred takes shelter in a woodcutter's hut, where a peasant woman, not knowing who he is, scolds him for burning her cakes.
Many years ago there lived in England a wise and good king whose name was Alfred. No other man ever did so much for his country as he; and people now, all over the world, speak of him as Alfred the Great.
Nhiều năm trước, ở nước Anh có một vị vua khôn ngoan và nhân hậu tên là Alfred. Không một ai khác từng làm được nhiều điều cho đất nước mình như ông; và ngày nay, người ta khắp nơi trên thế giới gọi ông là Alfred Đại đế.
In those days a king did not have a very easy life. There was war almost all the time, and no one else could lead his army into battle so well as he. And so, between ruling and fighting, he had a busy time of it indeed.
Thời ấy, làm vua không phải là một cuộc sống dễ dàng. Chiến tranh xảy ra hầu như liên miên, và không ai khác có thể dẫn dắt quân đội ra trận giỏi như ông. Vì vậy, giữa việc trị vì và chiến đấu, ông thực sự bận rộn không ngơi nghỉ.
A fierce, rude people, called the Danes, had come from over the sea, and were fighting the English. There were so many of them, and they were so bold and strong, that for a long time they gained every battle. If they kept on, they would soon be the masters of the whole country.
Một dân tộc hung hãn, thô bạo, gọi là người Đan Mạch, đã từ ngoài biển kéo đến, và đang giao chiến với người Anh. Số lượng của họ quá đông, và họ táo bạo, mạnh mẽ đến mức trong một thời gian dài họ đã thắng hết trận này đến trận khác. Nếu cứ tiếp tục như vậy, chẳng bao lâu nữa họ sẽ làm chủ toàn bộ đất nước.
At last, after a great battle, the English army was broken up and scattered. Every man had to save himself in the best way he could. King Alfred fled alone, in great haste, through the woods and swamps.
Cuối cùng, sau một trận chiến lớn, quân đội Anh tan rã và ly tán. Mỗi người phải tự cứu lấy mình bằng cách tốt nhất có thể. Vua Alfred chạy trốn một mình, hết sức vội vã, xuyên qua rừng rậm và đầm lầy.
Late in the day the king came to the hut of a woodcutter. He was very tired and hungry, and he begged the woodcutter's wife to give him something to eat and a place to sleep in her hut.
Về cuối ngày, nhà vua đến được túp lều của một người đốn củi. Ông vô cùng mệt mỏi và đói khát, nên đã xin vợ người đốn củi cho ông chút gì để ăn và một chỗ để ngủ trong túp lều của bà.
The woman was baking some cakes upon the hearth, and she looked with pity upon the poor, ragged fellow who seemed so hungry. She had no thought that he was the king.
Người phụ nữ đang nướng vài chiếc bánh trên bếp lò, và bà nhìn người đàn ông rách rưới, có vẻ đói khát ấy với ánh mắt thương hại. Bà không hề nghĩ rằng đó chính là nhà vua.
"Yes," she said, "I will give you some supper if you will watch these cakes. I want to go out and milk the cow; and you must see that they do not burn while I am gone."
"Được," bà nói, "tôi sẽ cho ông chút gì ăn tối nếu ông trông chừng mấy chiếc bánh này. Tôi phải ra ngoài vắt sữa bò; ông phải để ý sao cho chúng không bị cháy trong lúc tôi đi vắng."
King Alfred was very willing to watch the cakes, but he had far greater things to think about. How was he going to get his army together again? And how was he going to drive the fierce Danes out of the land? He forgot his hunger; he forgot the cakes; he forgot that he was in the woodcutter's hut. His mind was busy making plans for tomorrow.
Vua Alfred rất sẵn lòng trông chừng mấy chiếc bánh, nhưng trong đầu ông còn có những việc lớn lao hơn nhiều để suy nghĩ. Làm sao ông có thể tập hợp lại quân đội của mình? Và làm sao ông có thể đuổi được lũ người Đan Mạch hung tợn ra khỏi đất nước? Ông quên mất cơn đói; ông quên mất mấy chiếc bánh; ông quên rằng mình đang ở trong túp lều của người đốn củi. Tâm trí ông mải mê vạch kế hoạch cho ngày mai.
In a little while the woman came back. The cakes were smoking on the hearth. They were burned to a crisp. Ah, how angry she was!
Một lúc sau người phụ nữ trở về. Bánh đang bốc khói nghi ngút trên bếp lò. Chúng đã cháy đen thành than. Ôi, bà giận biết bao!
"You lazy fellow!" she cried. "See what you have done! You want something to eat, but you do not want to work!"
"Đồ lười biếng!" bà kêu lên. "Xem ông đã làm gì kìa! Ông muốn có gì đó để ăn, nhưng ông lại không muốn làm việc gì cả!"
I have been told that she even struck the king with a stick; but I can hardly believe that she was so ill-natured.
Tôi từng nghe kể rằng bà thậm chí còn lấy gậy đánh nhà vua; nhưng tôi khó lòng tin rằng bà lại ác nghiệt đến thế.
The king must have laughed to himself at the thought of being scolded in this way; and he was so hungry that he did not mind the woman's angry words half so much as the loss of the cakes.
Hẳn là nhà vua đã tự cười thầm trước việc bị mắng mỏ như vậy; và ông đói đến mức không để tâm đến những lời giận dữ của người phụ nữ bằng việc mất đi mấy chiếc bánh.
I do not know whether he had anything to eat that night, or whether he had to go to bed without his supper. But it was not many days until he had gathered his men together again, and had beaten the Danes in a great battle.
Tôi không biết liệu đêm đó ông có được ăn gì không, hay ông phải đi ngủ mà không có bữa tối. Nhưng chẳng bao lâu sau, ông đã tập hợp lại được quân của mình, và đánh bại người Đan Mạch trong một trận chiến lớn.